Wednesday, June 16, 2021

Thiên cổ anh hùng – Trương Tam Phong (Kỳ 2): Bôn ba khắp núi tìm Chân Đạo; mong gặp Thần Tiên cõi Bồng Lai

-


Lời toà soạn: Lịch sử 5000 năm văn minh, văn hoá của Á Đông hào hùng, tràn đầy khí chất, là cả một kho tàng vô giá cho hậu thế. Chúng tôi tiến hành loạt bài về 24 nhân vật anh hùng thiên cổ (“Thiên cổ anh hùng”) ngõ hầu phục hưng tinh hoa văn hoá truyền thống cũng như những giá trị đạo đức quý báu của người Á Đông.

  • Trọn bộ “Thiên cổ anh hùng”

Sau nhiều ngày tháng bôn ba khắp tứ hải ngũ nhạc, Trương Tam Phong lại tìm đến nam bắc Trung Châu nhưng đáng tiếc, ông vẫn chưa gặp được chân sư chân Đạo. Chỉ thấy ‘mộ phần đế vương lạc trong ánh chiều tà’, quả đúng là: Con đường tu luyện chưa phỉ nguyện, cõi lòng đau đáu hướng Bồng Lai…

4. Tìm Chân hỏi Đạo, đi khắp núi

Khúc “Lên thang Trời” của Trương Tam Phong, đã xướng lên chí hướng ‘tu Chân xuất thế’ vững như bàn thạch của ông:

Tạm dịch:

Nghĩ ngày mới tìm Đạo
Kiên tâm như bàn thạch (1)
Từ quan tới Hải Nhạc (2)
Gian khổ tìm thuật đan…
Bỏ lại mộ người thân
Núi quê không quyến luyến
Từ biệt người vợ mến
Biệt nhà trước bình minh
Xa rời con thơ nhỏ
Quay đầu là ly gia
Thứ người đời khó bỏ
Kẻ buông liền là ta
Thứ người đời khó đoạn
Kẻ đoạn được là ta
Muốn đắc Đạo, không già
Cưỡi hạc bay về Trời.

Trương Tam Phong rời quê nhà ở Liêu Dương, đích đến đầu tiên là Thái Hành Sơn. Trên đường đi, ông có qua Hà Bắc nơi mình từng nhậm chức làm quan. Tại đây Trương Tam Phong đã bày tỏ niềm cảm khái và xúc động vô hạn. Trong “Bắc du lúc 33 tuổi”, Trương Tam Phong viết:

U Ký trùng lai cảm khái vong
Ô sa cải tác Đạo nhân trang
Minh triều bội kiếm huề cầm khứ
Khước thượng Tây Sơn vọng Thái Hành

Tạm dịch: 

U Châu, Ký Châu quên cảm xúc
Bỏ mũ ô sa làm Đạo nhân
Sớm mai đeo kiếm mang đàn
Tây Sơn, núi Thái an nhàn thong dong

Hằng Sơn – Tất, Mão ứng cùng nhau

Trương Tam Phong đeo kiếm mang đàn, qua dãy Thái Hành Sơn, đầu tiên đến Hằng Sơn – nơi ‘động thiên phúc địa’ của Đạo gia. Tương truyền, Trương Quả Lão trong Bát Tiên đã ẩn cư tu luyện ở Hằng Sơn, nơi đây lưu lại một lượng lớn di tích của Thần Tiên. 

Huyền Không Tự (3) nổi tiếng, toạ lạc trên vách đá cheo leo của đỉnh Thuý Bình, phía tây hẻm núi Kim Long thuộc Hằng Sơn. Huyền Không Tự xây dựng vào năm Thái Hoà thứ 15 thời Bắc Nguỵ (năm 491), nhìn lên trên có trập trùng những tảng đá nguy hiểm, nhìn xuống dưới là thung lũng sâu, lầu gác như ‘treo trên không’, kết cấu xảo diệu, là tuyệt cảnh thế gian.

Chùa treo Huyền Không tự dựng vào vách núi Hằng Sơn (ảnh: Wikipedia).

Trong vũ trụ, thiên địa vạn vật có quan hệ đối ứng, núi trên đất đối ứng với sao trên trời, mà sao trên trời cũng là biểu hiện hình tượng của Thiên Thần, cho nên mới có “quan sát Đạo Trời, làm theo sự vận hành của Trời, muôn việc đều hay” (Trích “Hoàng Đế – Âm Phù kinh”). Trải qua các triều đại, Hoàng đế đều coi trọng quan sát Thiên văn.

Tất, Mão là 2 vì sao trong Nhị thập bát tú – 28 vị tinh tú. Trương Tam Phong nói Hằng Sơn đối ứng với 2 vì sao này, là một nơi ‘động thiên phúc địa’ của Đạo gia.

Trong “Hằng Nhạc” (núi Hằng), Trương Tam Phong viết: 

Tất Mão tinh ngưng xứ
Hằng Sơn khí tượng cao
Đằng la khiên tuyệt bích
Tùng bách hống phi đào
Sóc dã hà không khoát
Linh phong nãi nộ hiệu
Kết lư tiên lĩnh thượng
Vọng lý hứng phi hào.

Tạm dịch: 

Tất Mão nơi ngưng tụ
Khí núi Hằng Sơn cao
Dây leo vươn khắp chốn
Tùng bách ngân rì rào
Phương bắc nơi nào rộng
Gió thiêng vẫn thét gào
Dựng nhà trên đỉnh núi
Nhìn cảnh muốn bay cao.

Trương Tam Phong làm nhà trên đỉnh núi Tiên, dốc lòng tìm Đạo. Trải qua 10 năm đằng đẵng, ông vẫn chưa gặp được Đại Đạo. Trương Tam Phong lưu lại bài “Du du ca” (Bài ca đằng đẵng), cảm thấy đời người ngắn ngủi, than rằng ‘chân Đạo khó tìm’:

Du du ca, du du ca!
48 tuổi giữa đất trời không nhỏ
Thọ mệnh đời người có là bao!
Ở nơi đây đã 16 năm
Qua lại Yên Triệu (4) thành bọt sóng
Sửa nón áo, mang theo đàn – kiếm
Đến núi Bồng Lai xướng Đạo ca. 

Bồng Lai tiên cảnh mong thấy đặng

Trương Tam Phong chuyển hướng, đi về đông để đến Tề – Lỗ (nay thuộc Sơn Đông, Trung Quốc), tìm kiếm thế giới Thần Tiên. Trong “Đông du”, Trương Tam Phong viết:

Thử thân trường phóng thuỷ vân gian
Tề – Lỗ ngao du hứng tự nhàn
Dục phỏng Phương Hồ – Viên Kiệu khách
Thần Tiên vạn cổ trú tam sơn.   

Tạm dịch: 

Một thân trải dài giữa nước – mây
Ngao du Tề – Lỗ luống qua ngày
Phương Hồ, Viên Kiệu thăm người cũ
Thần Tiên vạn cổ trú tam sơn

(Phương Hồ, Viên Kiệu và tam sơn – tức ‘ba ngọn núi’, sẽ có giải thích phía sau).

Trong thi phẩm “Buổi sáng dậy sớm ngắm Mặt trời”, Trương Tam Phong miêu tả nơi này như sau:

Gà hễ cất tiếng, cửa biển mở
Vầng dương hiển lộ, sóng rì rào
Ánh sáng vạn dặm liên tục đỏ
Sắc màu ba khối núi xanh cao
Xa xa tiếng hạc từ từ hạ
Chỉ thấy mây rồng mang nước theo
Phất trần Phi Tiên phiêu phất phẩy
Thương người tìm Đạo ngóng Bồng Lai.

Trong hai bài thơ ở trên, Phương Hồ – Viên Kiệu là 2 trong số 5 ngọn núi Thần ở biển Bột Hải. Trong “Liệt Tử – Thang vấn” ghi rằng: Phía đông biển Bột Hải có 5 ngọn núi là Đại Dư, Viên Kiệu, Phương Hồ, Doanh Châu và Bồng Lai. 

Tranh vẽ Bồng Lai tam đảo (ảnh: Wikipedia).

Sau này Đại Dư và Viên Kiệu trầm xuống đáy biển, chỉ còn lại ‘ba ngọn núi’ là Phương Hồ, Doanh Châu và Bồng Lai. Ba ngọn núi này là nơi Thần Tiên cư ngụ. Cung vàng điện ngọc lung linh tráng lệ, ‘hoa thơm trái ngọt’ trên núi ăn không hết. Tương truyền Tần Thuỷ Hoàng và Hán Vũ Đế Đều cử người tìm đến đây để cầu Tiên dược mà chẳng đặng. 

Trong “Sử ký – Tần Thuỷ Hoàng bản kỷ” ghi lại việc Tần Thuỷ Hoàng sai Từ Phất xuống biển cầu Tiên nhân. Trong đó chép rằng: “Người nước Tề là Từ Phất dâng thư, nói rằng trong biển có ba ngọn núi Thần: Bồng Lai, Phương Trượng (Phương Hồ), Doanh Châu, đây là nơi Tiên nhân cư ngụ. Muốn cầu được, phải trai giới và đi cùng đồng nam đồng nữ. Thế là Từ Phất dẫn mấy nghìn đồng nam đồng nữ xuống biển cầu Tiên nhân. 

Trong “Sử ký – Phong thiền thư” có ghi lại việc Hán Vũ Đế sai phương sĩ (nhà luyện kim đan) xuống biển cầu Tiên: “Phương sĩ Tiểu Quân nói: Thần từng ngao du trên biển thấy An Kỳ Sinh. An Kỳ Sinh ăn quả táo lớn, to bằng quả dưa. Bậc Tiên – An Kỳ Sinh, nếu người nào qua Bồng Lai, thấy hợp thì ông cho nhìn, không hợp thì ông ẩn. Thế là Thiên tử tự mình tế tự, sau đó nhờ bọn phương sĩ xuống biển cầu An Kỳ Sinh ở Bồng Lai”.

Lao Sơn – núi Tiên trên biển, nơi đây đã lưu lại dấu chân và câu chuyện tu Đạo của Trương Tam Phong. Trương Tam Phong lên gác Bồng Lai, phóng tầm mắt nhìn Tiên cảnh, trong lòng cảm thấy mênh mang. Trong “Đan nham sơn”, ông viết: 

Gác Bồng Lai trên đỉnh Đan Nham
Thấy được Bồng Lai vút tầm nhìn
‘Gió trời nước biển’ thanh lòng dạ
Sóng nước mênh mang tự đóng khai (5)

Ta đến Đông Mâu (6) rộng tầm mắt
Ý thơ hào phóng tựa anh hùng
Sáng sớm ra khỏi rừng phù mộc (7)
Lâu đài đình các nạm ngọc vàng

Vỗ tay ca hát chim hạc khởi
Tiên nhân phiêu phất đến trước ta
Cầm cốc tế hải chúc Thần Biển
Khai triển quang minh vạn dặm khơi

Tâm tình muốn thấy ở hải ngoại (8)
Bầu trời tách biển rộng vô biên
Ước cưỡi xe gió bay đi mất
Chưa đủ tu vi, lòng mênh mang.

Trương Tam Phong chu du vùng phía đông Hoàng Hà trong 3 năm, sau đó lên núi Thái Sơn. Ông nói, “đời người đến đây để mở mang tầm mắt”. Đi sang Lai Sơn ông nói, “trên núi, 6 cư sĩ ẩn dật (9) giờ nơi đâu?”. Bồng Lai Tiên cảnh, ông chưa thể chắp cánh bay đi. Nếu không đắc Đại đạo, thắng cảnh cũng không còn ý nghĩa. 

Trong “Hà Đông”, Trương Tam Phong viết: 

Ba năm rong ruổi khắp Hà Đông
Bền bỉ ngày đêm há sờn lòng
Leo núi dựa vào cây gậy trúc
Qua sông phải gánh khúc cổ cầm
Bốn bể nơi đâu Đạo lữ?
Khi nào có thể thấy Tiên ông?

Trung Châu chưa phỉ nguyện tu hành

Trương Tam Phong du hành về phía nam, in dấu khắp Trung Châu, Hà Nam. Ông đến Trung nhạc (trong Ngũ nhạc) là Tung Sơn, đây là tịnh thổ của Phật môn. Thiếu Lâm Tự chính là toạ lạc tại khu rừng rậm bên trong núi Tung Sơn.

Tung Sơn cũng là núi Tiên của Đạo gia. Tương truyền Hán Vũ Đế từng đến đây tế lễ Thần núi, nghe thấy núi hô “vạn tuế”, cho nên Hán đế cho xây dựng Đạo quán Vạn Tuế. Theo Trương Tam Phong, Tung Sơn thuộc quẻ Ly trong Bát quái. Ly thuộc hoả, ngọn núi chính cao tới Trời, trên ứng với Tam Đài Tinh (chòm sao có 6 ngôi sao nhỏ), dưới còn phân hai ngọn Thái Thất Sơn và Tiểu Thất Sơn. 6 ở trên cộng 2 ở dưới là 8, tượng trưng cho Bát quái. Nơi này là quẻ Ly (lửa) do đó Tung Sơn là lò luyện đan Trời tạo. 

Tung Sơn (ảnh: Wikipedia).

Trương Tam Phong so sánh mình với Thi Tiên Lý Bạch. Ông tìm hết 36 ngọn núi ở Tung Sơn nhưng chưa tìm được chân sư. Hậu thế nói rằng Trương Tam Phong tinh thông Thiếu Lâm quyền, sau này lại sáng tạo ra Thái Cực quyền.

Trong “Tung Nhạc” (núi Tung Sơn), ông viết:

Lại rời ‘đại hoả’ (10) tìm nơi khác
Núi chính Trung Châu chót vót cao
Thần Tiên du ẩn Tam đài tĩnh
Thái – Thiểu u huyền, núi phân hai
Nay ta tìm đạo như sen khiết
Ba mươi sáu đỉnh mòn dấu chân
Đánh đàn trên đá miên man nghĩ
Trong mây hạc trắng bay la đà
Cổ khát, miệng khan tìm bầu rượu
Nước trong khe đá rửa môi mềm
Đêm đêm trăng sáng treo đầu suối
Nghe rặng tùng khuya réo rắt reo
Canh ba tĩnh mịch xoay mình nhẹ
Mỏm đá lơ thơ bóng cây rừng
Chưa gặp chân sư nào phỉ nguyện
Tung Sơn lưu dấu tích nơi này.

Rời Tung Sơn, Trương Tam Phong lên núi Vương Ốc – nơi đứng đầu 10 đại ‘động thiên’ của Đạo gia. ‘Động thiên’ (洞天) chính là “trong núi có động, nối thông các núi, trực tiếp thông thiên”. Trên đỉnh ngọn núi chính có đàn tế bằng đá, là nơi Hiên Viên Hoàng Đế tế Trời.

Khi xưa Hoàng Đế đại chiến với Xi Vưu, không cách nào đánh thắng. Vì thế Hoàng Đế cầu xin Trời cao cứu giúp. Cửu Thiên Huyền Nữ, Tây Vương Mẫu khi ấy hạ thế, đưa cho Hoàng Đế ‘Cửu đỉnh Thần đan kinh’ và ‘Âm phù sách’; nhờ thế ông mới khắc chế được bè lũ Xi Vưu.

Trương Tam Phong kết nhà tranh trên núi Vương Ốc để ở. Trong “Vương Ốc sơn” ông viết:

Trong số đại động thiên
Vương Ốc là đệ nhất
Mây trắng bay phơ phất
Ngàn năm đến bây giờ

Động đá vang tiếng nhạc
Núi cao treo trời trăng
Ta tới kết nhà cỏ
Luyện đan tu đạo Tiên. 

Trương Tam Phong tìm khắp bắc nam Trung Châu nhưng vẫn chưa gặp được chân sư chân Đạo. Chỉ thấy “mộ phần Đế vương lạc trong ánh chiều tà”. Trong “Trung Châu ký hành”, ông viết: 

Trung Châu nam bắc tìm hết cả
Nghe thảm điếu văn khắp mọi nhà
Công hầu khanh tướng còn đâu tá
Lăng tẩm đế vương lạc ánh tà
Thân như cành gãy theo dòng nước
Vai vác đàn xưa dưới hôn hoàng
Hôm sau đi tiếp từ sông vắng
Thái Hành, trong tay áo mây bay…

Quả đúng là:

Tìm Chân hỏi Đạo đi khắp núi
Hằng Sơn – Tất Mão ứng cùng nhau
Bồng Lai tiên cảnh mong thấy đặng
Trung Châu chưa phỉ nguyện tu hành…
[Trích thơ Vô danh cư sỹ].

Chú thích: 

(1) Tâm kiên định như bàn thạch, tảng đá to.
(2) Hải Nhạc: chỉ tứ hải ngũ nhạc, tức bốn biển và năm ngọn núi lớn, khắp thiên hạ.(3) Huyền: treo, không: không trung, tự: chùa. Huyền Không Tự: chùa Huyền Không, chùa như treo trên không.
(4) Yên Triệu: chỉ hai nước Yên, Triệu. Yên ở đông, Triệu ở tây. Ở đây chỉ đi khắp đông tây.
(5) Khai: mở.
(6) Đông Mâu: một quận của Trung Quốc thời đó.
(7) Phù mộc: phù tang, cây dâu.
(8) Hải ngoại: trong bài này lấy ý: bên ngoài biển.
(9) Nguyên gốc là: Lục dật –  六逸: Năm đó Lý Bạch cùng 5 người bạn lên núi Thái Sơn “ẩm tửu hàm ca” (uống rượu ca hát). 5 người bạn đó là: Khổng Sào Phủ, Hàn Chuẩn, Bùi Chính, Trương Thúc Minh, Đào Miện.
(10) Đại hoả: Tung Sơn thuộc quẻ Ly, Ly thuộc hoả. Theo người dịch ở đây chỉ Tung Sơn.

Theo Epoch Times
Mạn Vũ biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.tv||f42ec5769__



DKN.TV

Tùng
Tin vịt trên internet nhiều quá.
Có những thứ mình muốn, và cũng có những thứ mình cần. Những thứ mình cần quan trọng hơn.
Chúc mọi người có một ngày tốt lành.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Đọc Nhiều

Mới Đăng

- Quảng cáo -

Cùng Chuyên Mục
Recommended to you