Saturday, October 16, 2021

Khám phá lục nghệ – 6 con đường đạt Đạo của người xưa (P.3 – hết)

-


Lục nghệ vốn bắt đầu từ thiên đạo, người học lục nghệ nếu tuân theo [nguyên lý] của lục nghệ mà làm thì sẽ thăng hoa đạt đến thiên đạo. Giống như một ngọn núi lớn có sáu con đường đại đạo để lên núi, từ các hướng khác nhau, từ các đường khác nhau mà leo núi thì cuối cùng vẫn quy về cùng một chỗ [là đỉnh núi]…

5. Lục Thư

Người xưa căn cứ dựa trên hình dạng, âm điệu, ngữ nghĩa và điều lệ tạo chữ của chữ Hán mà quy nạp lại thành 6 phép cấu tạo chữ Hán gọi là lục thư, gồm: Tượng Hình (象形), Chỉ Sự (指事), Hội Ý (會意), Hình Thanh (形聲), Chuyển Chú (轉注) và Giả Tá (假借).

Từ xưa đến nay khi giáo dục cho học sinh thì việc dạy trẻ biết đọc, biết viết là nội dung quan trọng nhất, còn về trình độ lý giải nội hàm của Hán tự một cách sâu sắc thì đương nhiên giữa học sinh thời xưa và thời nay sẽ rất khác nhau.

Hán tự là văn tự Thần truyền. Cũng chính vì đó là văn tự mà Thần truyền cấp cho con người nên mới có thể lưu truyền bền bỉ mấy ngàn năm, bất kể là con người có quyền lực lớn đến mấy, không ai có thể cải biến Hán tự từ căn bản. Lúc ban sơ khi mới tạo ra chữ viết, Thần đã dung nạp ý chỉ của mình vào trong hình dạng, âm điệu, ý nghĩa của chữ Hán, người xưa sẽ thông qua học tập hình-âm-nghĩa của chữ Hán mà liễu giải cũng như thể hội sâu sắc thiên cơ và ý chỉ của Thần. Đây chính là một cách hữu hiệu để người xưa đạt đến cảnh giới cao, thiên nhân hợp nhất.

Chữ lập theo triện văn, có thể thấy là nét ngang (一) ở dưới chữ đại (大)

Ví dụ về 3 chữ “大” đại, “天”, thiên “立” lập. Chữ “大” đại là hình tượng một người đang đứng (dang hai tay) khi nhìn từ phía chính diện. Thêm một nét ngang “一” ở trên đầu chữ “大” đại sẽ thành chữ “天” thiên, còn thêm một nét ngang “一” phía dưới sẽ thành chữ “立” lập . Đỉnh đầu của con người đội trời, chân đạp đất, gọi là đỉnh thiên lập địa. Vị trí của một người giữa Trời Đất quyết định việc hết thảy mọi hành vi chuẩn tắc của con người phải phù hợp với quy luật của Thiên Địa, nếu không bầu trời trên đầu sẽ sụp đổ, mặt đất sẽ sụt lún, thiên địa bất dung. Nếu thiên địa bất dung thì tương lai người ấy sẽ đứng ở đâu? Chỉ với ba chữ đại “大”, thiên “天”, lập “立” nhưng đã một cách hình tượng mà bao hàm cả địa vị của con người, chuẩn tắc hành vi của con người trong đó. Những giáo viên dạy Hán ngữ ngày nay liệu có thể lý giải thâm sâu đến mức độ này không, huống nữa là học sinh của họ?

Chúng ta hãy phân tích về chữ 婚 hôn. Sách “Thuyết Văn Giải Tự” viết rằng: “Hôn, phụ gia dã. Lễ, thú phụ dĩ hôn thời, phụ nhân âm dã. Tòng nữ hôn, hôn diệc thanh” Dịch nghĩa: Hôn, là nghi lễ tổ chức ở nhà gái, lấy vợ thường tổ chức lúc hoàng hôn, phụ nữ thuộc về âm. Chữ hôn 婚 trong hôn nhân gồm chữ nữ và chữ hôn (hoàng hôn) ghép lại. Hôn(婚) là chỉ nhà gái. Chữ nữ 女 và hôn 昏 đều là thiên bàng chỉ ý, riêng chữ 昏 hôn vừa là biểu ý vừa là biểu âm. Nhà gái vì sao lại có bao gồm thành phần hôn (昏)? Bởi vì người xưa lấy vợ sẽ lấy lúc hoàng hôn. Cưới vợ vì sao lại chọn thời điểm hoàng hôn? Học thuyết âm dương thời xưa phân chia hết thảy vạn sự vạn vật thành hai loại lớn là âm và dương. Nam thuộc dương, nữ thuộc âm, ngày là dương, đêm là âm, mặt trời mọc là dương, mặt trời lặn là âm, v.v. Bởi vì người nữ thuộc âm nên chọn hoàng hôn là lúc khí âm dâng cao sẽ rước người nữ vào nhà, nên lấy vợ sẽ chọn lúc hoàng hôn. Bài thơ Đường “Động phòng tạc dạ đình hồng chúc, Đãi hiểu đường tiền bái cữu cô” [1] (Dịch nghĩa: Đêm trước khi động phòng, tắt ngọn nến hồng, đợi đến sáng lên nhà chào mẹ cha), đến nay ở một số địa khu thuộc Trung Quốc đại lục vẫn còn lưu truyền phong tục phải rước nàng dâu mới vào nhà trước khi mặt trời lên đều là xuất phát từ nghi lễ này.

Các kiểu viết chữ minh 明: đại triện, tiểu triện, lệ, khải, hành, thảo (thư pháp Triệu Mạnh Phủ đời Nguyên).

Chỉ một từ 婚 hôn thôi mà người học không chỉ cần học và nắm vững được hình-âm-nghĩa của chữ mà còn cả các nội hàm cực kỳ phong phú như nội hàm sâu sắc của học thuyết âm dương đằng sau con chữ cũng như sự lý giải về học thuyết âm dương của người xưa, tự giác chiểu theo nguyên lý âm dương mà làm các việc. Bản thân quá trình người xưa nghe, nói, đọc, nhận biết và viết chữ 婚 hôn đã bao hàm quá trình nội hoá [2] và lý giải nội hàm vô hạn của con chữ, cảnh giới của người học cũng từ đó mà thăng hoa một cách bất tri bất giác. Kỳ thực không chỉ là chữ 婚 hôn, mỗi mọi chữ Hán cổ đại đều [có hội hàm phong phú] như thế. Học tập Hán tự mà không lĩnh ngộ được nội hàm sâu sắc của con chữ thì chính là cô phụ sự từ bi và khổ tâm tạo chữ của Thần.

Bố cục kết cấu của Hán tự cũng như thế. Mỗi một chữ Hán đều có một trục trung tâm hữu hình hay vô hình bên trong. Ví dụ những chữ như 永 thuỷ、中 trung、小 tiểu、木 mộc、朱 chu đều có đường nét bút vạch theo trục tung, còn những chữ như 况 huống、耿 cảnh、刚 cương 、谓 vị .. không có đường nét bút vạch theo trục tung nhưng lúc viết đều phải giữ cho không lệch xa khỏi trung tâm và giữ cho chính, luôn giữ cho về gần trục trung tâm dù trục đó là hữu hình hay vô hình, hơn nữa giữa các nét bút cũng phải duy trì sự cân bằng, hòa hợp. Nếu không giữ vững quanh trung tâm, nếu bị lệch, bị nghiêng, hoặc xê dịch, thì hoặc là sẽ không thành được chữ muốn viết, hoặc là sẽ mất đi đặc điểm nhận dạng chữ đó và thành chữ khác. Việc viết chữ viết lớn hay nhỏ cũng là cùng một đạo lý như vậy. Vị trí tương quan của các nét và các bộ phận thành phần (thiên bàng) trong chỉnh thể một chữ Hán cũng không có khác biệt gì với vị trí tương quan của Thiên Địa trong Vũ Trụ, vị trí của các ngôi sao trong thiên thể, vị trí của con người trong Vũ Trụ và các hành vi, chuẩn tắc mà con người nên tuân theo. Người ta thường nói: Người thế nào văn thế ấy, người thế nào chữ thế ấy. Làm người và hành văn, viết chữ, là cùng một đạo lý, làm sao có thể không có liên hệ được?

Trên thư pháp của Mi Fu, triều đại nhà Tống. (Nguồn: Wikipedia)

Thiên đạo và thiên cơ ẩn ý từ Thần xuất hiện ở khắp mọi nơi. Trong các phép cấu tạo Hán tự thì từ kết cấu hình thể cho đến âm điệu và hàm nghĩa, hết thảy đều có thiên cơ. Trong văn tự mà Thần truyền thì khắp mọi chỗ đều là triển hiện thiên đạo cho con người cũng như ám thị cho con người thiên cơ ẩn ý từ Thần, chỉ là xem con người có thể suy nghĩ sâu thêm hay không, có thể ngộ ra được hay không. Nếu ngộ ra được thì mỗi một Hán tự đều là một chiếc thang bắc lên trời, còn nếu không ngộ ra được thì Hán tự chỉ là một loại công cụ văn tự có mang hình-âm-nghĩa mà thôi.

Con người là vạn vật chi linh [3], là vì con người có thể lĩnh ngộ được thiên cơ, có thể không ngừng nâng cao bản thân để đạt đến thiên đạo. Nếu không, con người cùng lắm cũng chỉ là một sinh vật trong vạn vật, chỉ là một con cờ trong ván cờ của thần Thời Gian mà thôi. Như thế con người há chẳng phải đáng thương lắm hay sao?

Chú thích của dịch giả:

【1】 Hai câu thơ này được trích trong bài thơ Khuê ý – Cận thí thướng Trương thuỷ bộ của Chu Khánh Dư thời Đường (theo thivien.net)

【2】 Nội hóa: (tiếng anh: internalization), tạm hiểu là quá trình học hiểu và ngấm dần vào tâm trí, biến nó thành một phần của mình.

【3】Vạn vật chi linh: Những sinh mệnh có linh tính nhất trong vạn vật.

6. Cửu Số

Cửu số chỉ chín chương toán thuật, bao gồm Phương điền 方田, Túc mễ 粟米, Sai phân 差分, Thiếu quảng 少廣, Thương công 商功, Quân thâu 均輸, Phương trình 方程, Doanh bất túc 盈不足, Bàng yếu 徬要, là chín loại phương pháp giải quyết vấn đề trong số học.

Học toán như thế nào mới đạt đến thiên đạo?

Chúng ta hãy lấy ví dụ về việc đếm số. Chúng ta đếm từ 1 đến 10, rồi từ 11 đến 20, từ 21 đến 30… kỳ thực chính là đếm từ 1 đến 10, rồi lại từ 1 đến 10, rồi lại từ 1 đến 10 nữa, cứ tuần hoàn lặp lại, tuần hoàn lặp lại như vậy cho đến vô cực. Câu mà Hứa Thận viết trong “Thuyết Văn Giải Tự” rằng “Thập, số chi chung dã” (số 10 cũng là số cuối cùng) đã khái quát cho chúng ta quy luật này. Đếm số vì sao lại đếm như thế? Bởi vì đạo của trời đất là như thế, người xưa chẳng qua chỉ là tuân theo thiên đạo để hành sự mà thôi. Sự vận hành của mặt trời và mặt trăng, sự lưu chuyển của bốn mùa, sự biến đổi của ngày và đêm, thảo mộc tươi tốt rồi khô héo, việc thay triều đổi đại, thế sự hưng suy, vân vân và vân vân, tất cả đều đến cực hạn rồi quay lại, tuần hoàn lặp lại, hết một vòng là lại quay trở về đầu như vậy. Ngay cả cách gieo vần bằng trắc trong thơ cũng như thế.

Hệ thống chữ số tập lệnh xương Oracle. (Nguồn: Wikipedia)

Trong “Chu dịch – Hệ Từ Thượng” có câu: “Hình nhi thượng giả vị chi Đạo” [1],theo các môn, các phái mà thực hành đi lên, thì đều có thể đạt được một điểm căn bản chung là Đạo, Vô cực, Thái cực cho đến đặc tính Chân Thiện Nhẫn của Vũ trụ. Đây chính là đạo lý, rằng các môn học khác nhau đi theo các con đường khác nhau nhưng đều hướng chung về một đích.

Các phép giải trong toán học như công thức, định lý, hệ phương trình v.v.., nhìn bề mặt thì chỉ là những ký hiệu trừu tượng hay những trình bày lý luận, nhưng kỳ thực nó đều là thể hiện một cách khái quát về bản chất của các sự vật cùng loại, là quy luật chung mà các sự vật cùng loại tuân theo, là thể hiện của chân lý tương đối của vũ trụ, cũng là cách thể hiện bằng ký hiệu hay sự mô tả theo cách đơn giản nhất của quy luật thiên đạo [2]. Người học toán từ những định lý, công thức, phương trình…mà tìm tòi sâu hơn sẽ phát hiện rằng số học không hề khô khan mà ngược lại lại ý vị như thơ, cái nét ý vị này không có ngôn từ diễn đạt trọn vẹn hết, đẹp không tả xiết. Tính súc tích cực độ và đặc điểm bao la vô tận của toán học, nếu dùng cách nói “một định lý chính là một thế giới, một phương trình chính là một thiên quốc” để hình dung thì cũng không có gì là thái quá.

Đường tròn nội tiếp của Li Ye trong tam giác: Sơ đồ một thị trấn tròn. (Nguồn: Wikipedia)

Sự huyền diệu huyền áo của vũ trụ, huyền cơ của thiên đạo đều ẩn bên trong vạn sự vạn vật. Mỗi một loại hiện tượng trong toán học đều hàm chứa thiên cơ, khi học sâu vào ngộ ra được đạo lý sẽ cảm thấy mỹ diệu vô cùng; còn nếu như người học chỉ học ở bề mặt, không có đào sâu thêm ý tứ bên trong thì sẽ thấy toán học quả thực là nhạt nhẽo, vô vị. Thử hỏi cả người dạy và người học toán học số học ngày nay có thể giảng, học và ngộ được vậy không?

[1] “Hình nhi thượng giả vị chi Đạo, Hình nhi hạ giả vị chi khí.” Hai câu này trong lịch sử có nhiều cách lý giải khác nhau, quý độc giả có thể tự tìm hiểu thêm. Cách lý giải của người dịch là: Từ thế giới hữu hình này, có thể lấy đó làm môi trường tu luyện để ngộ lên trên thì đó chính là đang hướng về Đạo; còn nếu dùi vào đó, chấp mê vào thế giới hữu hình này thì chỉ là thứ tầm thường, Khí.
[2] Theo hiểu biết nông cạn của người dịch, có thể đưa ra các ví dụ như sau:

Công thức tính động năng của một vật là 1/22.

hoặc là 1/2mv2.

Công thức tính năng lượng trữ trong cuộn cảm là: công thức tính động năng của một vật là 1/2Li2.

Công thức tính năng lượng trữ trong tụ điện là: công thức tính động năng của một vật là 1/2CU2.

Công thức tính thế năng của lò xo là: công thức tính động năng của một vật là 1/2kx2.

Các công thức trên đều rất tương tự nhau, các sự vật tưởng chừng khác nhau rất nhiều nhưng qua công thức tương tự thì có thể thấy bản chất của chúng có tính tương tự.

Lời kết

Về nội hàm và ẩn ý sâu xa cũng như những điều huyền diệu của lục nghệ, chúng tôi xin chỉ giới thiệu một cách đơn giản đến đây. Thoạt nhìn thì thấy chúng ta chỉ nói về lục nghệ, nhưng xét từ lục nghệ tổng quan cho đến những chỗ uyên thâm của lục nghệ thì mọi người sẽ phát hiện rằng những nguyên lý sâu xa ẩn sau sáu chủng tri thức và kỹ thuật này có sự nhất quán và tương thông với nhau. Lục nghệ vốn bắt đầu từ thiên đạo, người học lục nghệ nếu tuân theo [nguyên lý] của lục nghệ mà làm thì sẽ thăng hoa đạt đến thiên đạo. Giống như một ngọn núi lớn có sáu con đường đại đạo để lên núi, từ các hướng khác nhau, từ các đường khác nhau mà leo núi thì cuối cùng vẫn quy về cùng một chỗ [là đỉnh núi]. Trăm sông cùng đổ về một biển. Bởi vì các con đường khác nhau vốn từ cùng một điểm xuất phát mà ra, nên khi ta đi từ điểm cuối mà quay ngược trở về, thì tự nhiên sẽ quay về cùng một chỗ.

Kỳ thực, đâu chỉ là lục nghệ mà mỗi một ngọn cỏ, mỗi một nhành hoa, mỗi một cái cây, mỗi một hòn đá, vạn sự vạn vật trên thế gian này bên trong đều hàm chứa thiên đạo. Tất cả đều có thể giúp chúng ta ngộ đạo, tất cả đều là con đường để nhân loại quay trở về với thiên quốc [của mình]. Thần Phật vốn từ bi, lúc ban sơ khi tạo ra vạn sự vạn vật thì Thần đã ẩn thiên đạo huyền cơ vào trong đó, mục đích là khai sáng phương tiện để thế nhân sau này tại các ngành, các nghề khác nhau vào mọi lúc, mọi nơi đều có thể ngộ ra [thiên đạo] để quay về thiên quốc. Nếu như thế nhân chấp mê bất ngộ, không biết được đường về thiên quốc thì chính là đang khăng khăng tiến vào địa ngục một cách bất tri bất giác.

Hỡi thế nhân! Xin đừng cô phụ sự từ bi và dụng tâm của Thần Phật, cũng đừng cô phụ sự chờ đợi và kêu gọi từ hàng nghìn năm của thiên thượng. Cơ hội không nên để tuột mất, thời gian cũng sẽ không quay trở lại (1). Hãy quay về thôi! Bể khổ vô biên, quay đầu là bờ!

(1) Nguyên văn: Cơ bất khả thất, thời bất tái lai

Theo Chánh Kiến
Thanh Ngọc tổng hợp

Ghi chú: Tổng hợp từ loạt bài “Khám phá Lục Nghệ” của tác giả Trọc Thế Thanh Liên, đăng trên chanhkien.org. Link đầy đủ có tại: https://chanhkien.org/2021/02/tim-hieu-luc-nghe-phan-1.html



DKN.TV

Tùng
Tin vịt trên internet nhiều quá.
Có những thứ mình muốn, và cũng có những thứ mình cần. Những thứ mình cần quan trọng hơn.
Chúc mọi người có một ngày tốt lành.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Đọc Nhiều

Mới Đăng

- Quảng cáo -

Cùng Chuyên Mục
Recommended to you