Wednesday, September 22, 2021

Người La Mã- Phần 5

-

Phần V: Ném Bỏ Đế Chế

1

Guy de la Bedoyere

Trần Quang Nghĩadịch

Trong phần này . . .

Một thế kỷ gồm những tên ác ôn tàn bạo cai trị thế giới La Mã sau Marcus Aurelius, và rất ít tên chết yên ổn trên giường. Đế chế La Mã thậm chí bắt đầu chia tách thành những Đế chế kình địch nhau khi tướng này đến tướng khác quyết tâm cố thử và muốn mình trở thành hoàng đế. Trong lúc đó, chiến tranh bùng phát liên tục trên miền biên giới. Cứ thế tiếp tục thì ngay sự tồn tại của thế giới La Mã cũng đang lâm nguy.

Rồi xuất hiện Diocletian vào cuối thế kỷ thứ ba. Hệ thống Diocletian hoàn toàn khác __trong một nỗ lực giữ gìn cho thế giới La Mã vận hành, ông trói buộc các công dân La Mã vào gia đình và công việc của mình. Hệ thống phong kiến trung cổ đã được khai sinh. Người giàu trở nên giàu hơn, và kẻ nghèo thì nghèo hơn. Nhưng Đế chế La Mã còn bị tấn công trên khắp miền biên giới và từ trong nội bộ. Trật tự mới của Diocletian bắt đầu rơi rụng qua hàng trăm năm sau khi những người kế vị của ông tranh cãi nhau về quyền lực và lãnh thổ. Nên không có gì ngạc nhiên khi bọn man rợ tìm đường vào và cướp phá La Mã. Đế chế La Mã Phương Tây tan rã. Có lẽ điều kỳ lạ hơn hết là Đế chế La Mã Phương Đông còn sống thêm một ngàn năm nữa.

Chương 18

Lại Nội Chiến, Đấu Giá Đế Chế, và những Tên Điên Hoang Tưởng

Trong Chương Này

  • Thế giới điên loạn, xấu xa, rồ dại của Vommodus
  • Đế chế La Mã bị bán đấu giá ra sao
  • Tại sao thế giới La Mã sụp đổ thành nội chiến
  • Septimius Severus thành lập một triều đại mới

Một hoàng đế La Mã có thể làm khá nhiều những gì ông ta muốn vì ông ta có tiền và có nhiều người đói khát quyền lực sẽ cản trở ông ta. Điều này không có gì tệ, nếu hoàng đế là một người tốt và không để cho quyền lực làm mờ mắt mình. Nerva, Trajan, Hadrian, Antoninus Pius, và Marcus Aurelius, trị vì trong khoảng thời gian AD 96 và 180 (xem Chương 17 để biết thêm chi tiết), là những vì hoàng đế như thế. Họ đặt Đế chế lên trên hết và không sử dụng quyền lực để theo đuổi các tham vọng ích kỷ riêng tư. Ngoại trừ một ít chống đối, thời trị vì của họ là mùa hè tươi sáng của La Mã. Đế chế chưa bao giờ thịnh vượng hơn, hùng mạnh hơn, và ổn định hơn.

Không thể nói những lời tương tự với những hoàng đế tiếp sau. Những người được bàn đến trong chương này đặt tham vọng cá nhân của mình lên trên hết. Kết quả là nội chiến liên miên khi hết người này đến người kia sử dụng tài nguyên của Đế chế cho cứu cánh của mình. Thời tốt đẹp đã qua.

Ta nghĩ ta chính là Hercules:

Commodus (AD 180-192)

Marcus Aurelius mất một số con trai, trong đó có một đứa trong cặp sinh đôi. Con trai còn lại, Lucius Aurelius Commodus, còn sống và được 17 tuổi khi cha mình mất vào 180.

Trước đây Aurelius không dự định cho Commodus lên kế vị. Nhưng Lucius Verus, người ông chọn để kế vị mình, đã mất năm 169. Aurelius, vốn là một người theo phái Khắc Kỷ (xem Chương 16), đành phải chấp nhận sự thể như nó xảy ra.

Như Caligula vào AD 37 (xem Chương 16), Commodus quá trẻ và non kinh nghiệm để làm một hoàng đế. Những hoàng đế khác, Hadrian và Antoninus Pius, chẳng hạn, đã được học tập để nhận lấy trách nhiệm. Họ đã chỉ huy bình đoàn và đã phục vụ các chức quan trong La Mã và làm các Thống đốc tỉnh lỵ ở nước ngoài. Còn Commodus chưa làm những việc như thế bao giờ.

Tùy theo bạn đọc sử gia La Mã nào, Commodus hoặc đơn giản là một kẻ hèn hạ giao du với bọn xấu, hoặc y rất tàn bạo, mồm độc địa, và trụy lạc. Dù gì đi nữa, y chắc chắn đã gây bao đau khổ cho La Mã.

Commodus và chuyện nước

Vì Commodus quá mãi mê dành hết thời gian cho việc đua chiến mã xa và bù khú với bạn bè, ông sử dụng Chỉ huy trưởng Lực lượng Vệ binh Perennis để điều hành không chỉ quân đội mà còn những vấn đề của nhà nước. Perennis bắt đầu biến những người thuộc giới kỵ sĩ thành những chỉ huy quân đoàn, bởi vì Commodus căm ghét và không tin bất cứ ai thuộc hàng nghị sĩ. Sau Perennis __ y bị hành hình vì tội mưu phản __ Commodus phong một người được giải phóng tên Cleander chỉ huy Lực lượng Vệ binh và nhiều thứ khác.

Cleander là một tay cơ hội. Biết ông chủ mình không quan tâm đến việc trị an một chút nào cả, nên y biến nhiệm vụ của mình thành một chuyện làm ăn. Y bán các chức nghị sĩ, thống đốc, và chỉ huy quân đội, ra giá cao nhất như có thể. Trong chỉ một năm ông có thể bán đến 25 chức chấp chính __ một trong những người mua may mắn đến từ Bắc Phi tên là Septimius Severus (sẽ đề cập tiếp trong mục sau của chương này). Commodus bỏ qua việc làm bất hợp pháp của Cleander vì Cleander chia cho Commodus một phần tiền kiếm được. Khi trong một trận đói kém dân chúng nổi loạn, họ tố cáo Cleander. Tất cả việc tàn tệ mà y đã làm khiến Commodus rụng rời. Ông ra lệnh hành hình Cleander.

Sau khi Cleander chết vào 189, ba năm cuối cùng trong thời trị vì của Commodus biến thành một mớ bòng bong. Những người y từng yêu chuộng bị mưu sát để tịch biên tiền bạc hoặc, trong một trường hợp, chỉ vì Commodus ganh ghét tài đua xe của hắn.

Sự việc trở nên tồi tệ đến nổi khi một trận dịch bùng phát ở La Mã, giết chết gần 2,000 người trong vòng một ngày mà không ai thèm chú ý. Dân chúng càng lúc càng khiếp sợ Commodus, mà trong một phút cao ngạo đã quyết định La Mã nên đổi tên là Commodiana.

Commodius võ sĩ giác đấu

Commodus cũng si mê đánh nhau trong đấu trường, tàn sát thú dữ, và đua chiến mã xa. Ông dứt khoát cho mình là hiện thân của Hercules, vì thế y ăn mặc giống như vị anh hùng huyền thoại này với khăn trùm đầu bằng da sư tử, tay vung gậy tày. Không như Nero, vốn không giỏi thể thao, Commodus thực sự là một võ sĩ tài năng, và có ngày y đã tự mình giết chết 100 con gấu. Y chiến đấu như một võ sĩ giác đấu và tự thưởng cho mình một số tiền lớn từ quỹ giác đấu. Các nghị sĩ bị bắt buộc tham dự và chứng kiến những cảnh tượng mà mọi người cho là làm bẽ mặt. Có lần, Commodus chặt đầu một con chim đà điểu và vẩy vẩy cái đầu đứt lìa của nó vào các nghị sĩ, ý nói y cũng muốn làm thế đối với họ.

Các âm mưu chống Commodus và cái chết của y

Suốt những năm làm hoàng đế, Commodus phải giải quyết hàng tá những âm mưu lấy mạng sống của y. Âm mưu đầu tiên do chị ruột y dàn dựng. Sau vụ đó, Commodus rất cảnh giác trước những kẻ bày mưu và sử dụng một lực lượng cảnh sát chìm để săn lùng chúng. Dưới đây là các âm mưu chính:

Âm mưu 1: Bà chị yêu quí

Khi Aurelius mất, Commodus đang trên chiến dịch ở Đức. Khi nghe tin mình được kế vị, y tìm cách ký hiệp ước đình chiến với những điều khoản có lợi cho các bộ tộc Đức, rồi vội vã quay về La Mã, và diễn hành mừng chiến thắng trên chiến mã xa đi đầu. Kết quả là bà chị Lucilla bắt đầu bày mưu giết ông. Âm mưu bại lộ và Lucilla bị lưu đày.

Âm mưu 2: Tin đồn nói rằng . . .

Mặc dù Perennis làm rất tốt, binh lính bực mình vì cách thức ông ta loại các đối thủ để giành chức Chỉ huy Lực lượng Vệ binh. Họ nổi loạn. Một nhóm lính đi một mạch từ Anh đến La Mã và mật báo với Commodus là Perennis đang bày mưu giết ông. Commodus tin bọn lính nói thật, liền lập tức cho binh lính giết Perennis cùng với gia quyến vào năm 185.

Âm mưu 3: Ngày tàn của Commodus

Có vẻ như Commodus không thể chết yên lành trên giường, và đúng thế thật. Vào năm 192, Chỉ huy trưởng Lực lượng Vệ binh Aemilius Laetus và viên thị thần của Commodus là Eclectys quyết định ám sát Commodus khi có tin cho rằng hoàng đế đang lên kế hoạch hành hình cả hai quan chấp chính và thay thế họ bằng các võ sĩ giác đấu. Trong lúc mọi người đang vui chơi với lễ hội giữa mùa Đông, họ cho nhân tình của Commodus là Marcia, cũng là một người đồng mưu, đánh thuốc độc y. Nhưng vì y đã say mèm, nên y nôn chất độc ra hết, vì thế họ cho một vận động viên xiết cổ y đến chết vào ngày cuối cùng của tháng 12 năm 192.

Pertinax: 87 ngày kỳ diệu

Khi Commodus chết, y không để lại người kế vị. Laetus và Eclectus, những người đưa Commodus vào chỗ chết, đến vấn kế Publius Helvius Pertinax, vị chấp chính La Mã 66 tuổi, mà sử gia Dio đánh giá là một ‘con người chính trực và tài giỏi’. Là con trai một người được giải phóng, Pertinax trưởng thành là một kỵ sĩ, trước khi Marcus Aurelius phong ông là nghị sĩ. Ông giàu có và từng làm Thống đốc nhiều tỉnh lỵ khác nhau trong đó có Phi châu và Anh. Ông là một người tôn trọng kỷ cương và dạn dày, đủ sức dẹp tan một cuộc nổi loạn của binh lính ở Anh, tại đó ông suýt mất mạng, và ông cũng dẹp yên vài cuộc nổi dậy ở Phi châu.

Siết chặc kỷ cương

Trước khi Pertinax chấp nhận lời thỉnh cầu của Laetus và Electus, ông cử một người bạn đến nhận diện thi thể của Commodus, để chắc chắn câu chuyện là có thật. Rồi ông bí mật tiếp xúc với Lực lượng Vệ binh và trao cho họ một số tiền hậu hĩnh để họ chịu công nhận ông là hoàng đế. Pertinaz cho biết mình sẽ chỉnh đốn mọi thứ và siết chặc kỷ cương. Để đặt mục đích này, ông đã thực hiện những điều sau:

  • Ông cho phá bỏ những bức tượng của Commodus xuống và tuyên bố y là kẻ thù của nhân dân.
  • Ông tái lập trật tự trong chính quyền và tự phong là ‘Lãnh tụ Viện nguyên lão’.
  • Ông cho xóa tội những người đã bị kết án tử một cách oan sai.
  • Ông bán sạch tài sản của Commodus để lấy tiền trả cho binh lính và quần chúng.

Kiểm điểm binh lính

Sau thời trị vì sa đọa của Commodus, bạn có thể nghĩ là mọi người sẽ nhẹ nhõm khi được một người tài cán điều hành, nhưng các dự tính của Pertinax làm đám kiêu binh và những người được giải phóng làm việc bên cạnh hoàng đế lo lắng vì sợ những đặc quyền được Commodus ban thưởng sẽ phút chốc bay hơi.

Binh lính không còn được phép hành xử ngang tàng, chẳng hạn đi nghêng ngang dưới phố, tay cầm rìu, đánh người đi đường vô tội vạ. Pertinax ra lệnh phải ngưng ngay lập tức việc mang rìu và sỉ nhục dân chúng. Sự kiện này khiến bọn kiêu binh thấy tiếc những ‘ngày xưa hống hách’ dưới thời hỗn loạn của Commodus.

‘Đi bán muối’

Để loại trừ Pertinax, Lực lượng Vệ binh và Laetus bàn kế sách đem quan chấp chính Falco lên ngôi hoàng đế. Pertinax biết được âm mưu này nhưng tha thứ cho Falco. Để tránh hậu hoạn, Laetus bèn quay sang đám kiêu binh. Khiếp đảm vì sợ sẽ bị giết chết, 200 tên ùa vào cung điện và ám sát Pertinax cùng Eclectus.

Pertinax chỉ trị vì trong 87 ngày, ít hơn năm ngày so với Otho vào năm 69, người đang nắm giữ kỷ lục trị vì ngắn ngủi nhất của một hoàng đế La Mã.

Didius Julianus và Cuộc Nội Chiến

Sau khi Pertinax mất, Didius Julianus, một đồng nghiệp cũ của Pertinax trong ban chấp chính đã bị Commodus lưu đày, chạy đến doanh trại của Lực lượng Vệ binh và trao cho họ một số tiền lớn để ủng hộ ông lên làm hoàng đế. Ông có một đối thủ cạnh tranh, thị trưởng mới của thành phố tên Sulpicianus (cha vợ của Pertinax), và hai người cạnh tranh trong cuộc đấu giá mua Đế chế La Mã. Nếu việc đó hiện giờ nghe khó tin, thì ở thời điểm đó cũng khó tin không kém. Cuộc đấu giá tiếp tục cho đến khi Didius Julianus bổng ra một giá ngất trời và thắng cuộc đấu.

Dân chúng La Mã không vui vẻ chút nào và gọi Didius là ‘ Kẻ trộm Đế chế’. Một đám đông chạy đến trường đua và hội họp ở đó, yêu cầu binh lính miền Đông dưới quyền trị vì của Thống đốc Pescennius Niger ở Syria về La Mã để cứu họ khỏi tay Didius. Họ bất mãn Didius vì họ kì vọng Pertinax sẽ xóa sạch những thái quá của Commodus. Didius bất cần. Y đang tận hưởng thời khắc cực đỉnh của đời mình, phân phát ân huệ, đi nhà hát, và tổ chức tiệc tùng. Việc này có nguy cơ kết thúc trong nước mắt, và đúng thế thật.

Khi binh sĩ ở Syria dưới quyền chỉ huy của Thống đốc Pescennius Niger, nghe lời cầu cứu từ La Mã, họ nhanh chóng tuyên bố Pescennius Niger là hoàng đế. Niger không phải là người duy nhất có tham vọng như thế. Hai người khác cũng xắn tay áo vào trận: Clodius Albinus, một người Bắc Phi làm Thống đốc ở Anh (thậm chí Commodus có lần xem xét việc kế vị của hắn) và Lucius Septimius Severus, một người Bắc Phi khác ở Pannonia được binh lính của y phong làm hoàng đế.

Tình thế đã dàn dựng cho một cuộc nội chiến tàn khốc. Severus là người khôn lanh nhất. Ông biết rằng một khi Didius Julianus chết, ba người họ sẽ phải quay ra kình địch nhau, và kết quả chưa chắc đã rõ ràng. Và để là người chiến thắng, Severus nghĩ ra một kế xảo quyệt.

Severus giả vờ làm bạn với Clodius Albinus và bảo rằng Albinus có thể là người kế vị được công bố của mình. Albinus dính cả móc câu lẫn dây câu vì tin rằng mình có phần trong quyền lực hoàng đế mà không cần phải đánh đấm, nên nán lại ở Anh chờ đợi. Severus tiến binh vào La Mã tại đó Didius Julianus đang cố gắng biến thành phố thành pháo đài. Vấn đề là bọn Vệ binh đã quen với lối sống phè phỡn, nên không ai biết cách xây dựng pháo đài thế nào cho đúng, ngoài ra có một số quay về phe của Severus. Cuối cùng, Didius tiêu đời khi Severus hứa rằng nếu họ nộp bọn người mưu sát Pertinax họ sẽ được tha. Viện nguyên lão nhóm họp, tán thành hành động của binh lính, kết án Didius tội chết, và tuyên bố Severus là hoàng đế.

Didius Julianus bị hành hình sau khi làm hoàng đế được 66 ngày, tạo thêm một kỷ lục mới về thời gian trị vì ngắn nhất trong lịch sử Đế chế La Mã. Ông khóc rống khi bị giết, ‘Ta đã làm gì nên tội? Ta đã giết ai đâu?’

Septimius Severus (AD 193-211)

Lucius Septimius Severus sinh vào năm 145 tại Leptis Magna, một thành phố chính của Bắc Phi trên bờ biển của vùng bây giờ là Lybia. Ông xuất thân từ một gia đình giàu có thuộc dòng dõi Punic và Ý, là một học giả, và trò chơi ưa thích của ông thời thơ ấu là làm quan thẩm phán. Ông đến La Mã để hoàn tất việc học và, với sự ủng hộ của gia đình, ông trở thành một nghị sĩ dưới thời Marcus Aurelius. Ông mua chức quan chấp chính do Cleander bán ra dưới thời Commodius. Rất mê tín, ông luôn trông ngóng những điềm báo cho biết ông được trao thiên mệnh làm hoàng đế. Sau đây là một vài dấu hiệu:

  • Ông có lần nằm mơ thấy mình được một sói cái cho bú giống như Romulus (xem Chương 10 về nhân vật huyền thoại này).
  • Khi ông cưới người vợ thứ hai Julia Domna (một người Syria) tại La Mã vào AD 173, Faustina, vợ của hoàng đế Marcus Aurelius đang trị vì, đã chuẩn bị phòng tân hôn cho họ.
  • Một chiêm tinh gia có lần đã tiên đoán rằng Julia Domna sẽ cưới một ông vua (và, thật ra, đó là lý do Severus đã chọn bà làm vợ).
  • Một con rắn có lần cuộn mình quanh đầu Severus nhưng không dám hại ông.
  • Trong thời gian làm Thống đốc ở Gaul, ông nằm mơ thấy toàn thể thế giới La Mã đã chào đón mình.

Chiếm lấy ngôi vua

Sau cái chết của Didius Julianus, Severus đi một chặng khá dài trước khi chiếm được ngôi. Để lại Clodius Albinus ở Anh với niềm tin lạc quan là mình sẽ được củng cố vị thế trong chính quyền mới, Severus có thể an tâm hành quân về miền Đông để dẹp tan Pescennius Niger. Niger đã không phí phạm thời gian, phòng vệ nghiêm nhặt trên toàn lãnh thổ. Nhưng Severus đánh bại lực lượng của Niger ba lần và đuổi theo kịp y khi y cố bôn tẩu về hướng sông Euphrates. Niger nhanh chóng bị hành hình vào năm 194 cùng với đồng bọn. Severus phạt tiền các thành phố đã ủng hộ đối thủ của mình và trừng phạt họ bằng cách tước đi vị thế thành phố.

Người tiếp theo trong danh sách của Severus là Clodius Albinus, giờ ngộ ra là mình đã bị lợi dụng, nên củng cố quân đội. Binh lính của Albinus tuyên bố ông là hoàng đế và cùng nhau vượt biển từ Anh sang Gaul và chuẩn bị hành quân về La Mã. Severus chặn họ gần thành phố Lugdunum (Lyons) vào 197. Trận chiến, ước tính có 150,000 binh sĩ tham gia ở mổi bên, đôi co bất phân thắng bại, và Severus có lần suýt bị giết chết, nhưng cuối cùng ông đã chiến thắng. Vì điều cuối cùng Severus muốn là một triều đại có người tranh giành, nên ông không thương tiếc ra lệnh hành hình Albinus và bêu thủ cấp của y lên cọc. Sau đó ông ra lệnh giết sạch vợ, con cái và tất cả người trung thành với Albinus. Thi thể của Albinus được để sình thối trước khi bị quẳng xuống sông.

Chia để trị

Severus là chủ nhân không thể tranh cãi của thế giới La Mã vào 197. Anh và Syria mỗi xứ được chia nhỏ thành hai tỉnh lỵ để một Thống đốc khó lòng điều binh đồn trú của mình, nổi dậy, chiếm lấy quyền lực.

Xây dựng triều đại

Severus thanh tẩy Viện nguyên lão để loại trừ tay chân của Niger và Albinus và chuẩn bị thiết lập một triều đại, xưng mình là con trai của Marcus Aurelius. Đây hiển nhiên là điều vô nghĩa, nhưng nhiều hoàng đế qua nhiều thời kỳ rối ren sau này đều hành động như thế để chứng tỏ mình là người hợp pháp. Con trai lớn nhất của ông có tên là Bassianus lúc mới sinh nhưng bây giờ đổi tên thành Marcus Aurelius Antoninus, mạo nhận mình thuộc dòng dõi của những vị minh quân thế kỷ thứ hai AD. Nhưng chàng trai trẻ này luôn được nhớ đến dưới tên Caracalla vì anh ta ưa mặc loại áo choàng kiểu Gaul gọi là caracalla.

Severus đặc biệt nhờ cậy vào Chỉ huy Lực lượng Vệ binh, Fulvius Plautianus. Plautianus cướp bóc thẳng tay những gì có thể, tra tấn dân chúng để moi tin, và có quyền hành đến nổi không bị hỏi tội dù có khiếm nhã với Julia Domna. Vào 202, con gái của Plautianus là Plautilla kết hôn với Caracalla, cho dù Caracalla đều ghê tỡm cả hai. Khi em trai của Severus tố cáo Plautianus vào năm 205, cuộc chơi kết thúc và Plautianus bị giết chết.

Giải quyết vấn đề biên giới

Severus quả là may mắn. Biên giới trên sông Danube và Rhine rất yên bình, và ông có thể an tâm đi giải quyết mối đe dọa của Parthia ở miền Đông. Ông giáng cho quân Parthia một đòn trí mạng đến nỗi từ đó họ không bao giờ hồi phục và chiếm lại phần lãnh thổ trước kia Hadrian đã từ bỏ. Ông biến thành phố Palmyra thành một thuộc địa, và nó nhanh chóng trở thành một trong những thành phố lớn nhất của Đế chế La Mã vì nó nằm trên con đường giao thương sầm uất đến vùng Viễn Đông.

Quyền lực tăng trưởng của Palmyra có nghĩa là trong những thời đại sắp tới thành phố sẽ trở thành một mối đe dọa lớn lao cho quyền lực La Mã ở miền Đông (xem Chương 19).

Giải quyết Viện nguyên lão La Mã

Severus chỉ trở lại La Mã vào 202. Ông không mấy quan tâm đến việc giả vờ hợp tác với Viện nguyên lão, thành trì cuối cùng của Cộng Hòa. Ông bắt đầu bố trí những công việc hành chính cho những kỵ sĩ và thậm chí phong họ là tư lệnh của các quân đoàn mới, cũng như cắt cứ họ vào việc điều hành một số tỉnh lỵ. Ông còn đưa vào nhiều quan chức tỉnh lẻ từ miền Đông, điều không có gì ngạc nhiên vì đó là nơi vợ chồng ông xuất thân.

Severus rất sốt sắng trong việc xây dựng công sở, và tăng lương cho binh lính. Một phần tiền bạc có được do ông tịch thu tài sản những đồng bọn của Niger và Alpinus. Phần còn lại do ông tăng thuế và giảm lượng bạc trong tiền đồng, nhờ thế ông có thể đúc được nhiều tiền hơn với cùng một số lượng bạc. Việc này gây ra lạm phát (xem lại Chương 7) và sẽ để lại tác động tai hại cho tiền tệ La Mã.

Nắn gân các con trai ở Anh

Vào 208, Severus lại đi, lần này đến xứ Anh. Biên giới phía bắc Anh vẫn liên tục sôi động, và ông phải ra lệnh cho sửa chữa và tái thiết Bức Tường Hadrian. Nhưng lý do thực sự của chuyến đi là trui rèn hai con trai của mình, Caracalla và Geta, mà ông quyết định sẽ cho kế vị. Hai chàng trai trẻ này cần chứng tỏ bản lĩnh chiến chinh và có phẩm cách không gây tai hại nào cho La Mã.

Cuộc chiến là một trò hề. Quân đội La Mã tiến về bắc vào Scotland, vùng đất luôn bị các du kích quân bộ tộc quấy nhiễu, rồi chịu hòa giải và sau đó lại vi phạm hòa ước. Người La Mã không có cách nào chống lại lối đánh du kích, trong đó từng đám người ùa ra đột kích các cánh quân La Mã rồi nhanh chóng lủi vào đầm lầy và biến mất trong rừng rậm và sương mù trước khi quân La Mã kịp trở tay. Quân La Mã , chậm chạp vì trang bị nặng, kéo lê chân càng ngày càng xa hơn và sâu hơn vào miền bắc Anh.

Cái chết của Severus

Sau ba năm chiến đấu ở Anh, Severus qua đời, kiệt sức vì tuổi già và bệnh gút, tại thành phố York miền bắc xứ Anh vào năm 211. Không cần phải nói, ông cũng thấy trước điềm báo về cái chết của mình __ ông mơ thấy mình bị mang lên trời và khiếp đảm khi nghe tên lính Ethiopia nói, ‘Ngài từng là nhà chinh phục, giờ hãy là một vị thần!’

Cuộc trị vì của Severus là một dấu hiệu của tương lai:

  • Ông được sinh tại một nơi rất xa La Mã.
  • Ông được phong hoàng đế tại một tỉnh lỵ.
  • Ông thường đi khỏi La Mã trong thời gian trị vì.
  • Ông cho nhiều quan chức tỉnh lẻ vào trong tầng lớp ưu tú La Mã nhiều hơn bất kỳ ai khác.

Không Sống Theo Đúng Kỳ Vọng của Cha __

Caracalla (AD 211-217)

Septimius Severus đã sắp xếp việc kế vị suôn sẻ sau khi ông mất. Caracalla đã được đưa lên hàng đồng_hoàng đế từ 198 và được em Geta tham gia vào 208. Lần đầu tiên trong lịch sử La Mã, có ba vị hoàng đế ngang hàng nhau. Đây là một kế hoạch tuyệt vời trừ khi anh em ghét nhau và việc ghét nhau là điều họ đương nhiên gặp hơnbất cứ điều gì khác.

Từ lúc còn nhỏ Caracalla là đứa trẻ nhạy cảm, thông minh, và đầy lòng trắc ẩn; thậm chí ông phục hồi quyền lợi cho các thành phố Antioch và Byzantium mà cha ông đã trừng phạt vì tội ủng hộ Niger vào năm 193. Nhưng khi trưởng thành, ông lại trở thành một tên vô lại xấc xược và đầy tham vọng, thù ghét em mình và tưởng mình là Alexander Đại Đế.

Trừ khử Geta và một nhóm người khác

Cái chết của Severus vào 211 có thể đã hơi trễ đối với Caracalla, vì y cũng đã toan tính ám toán cha mình trong chiến dịch ở Anh. Giờ đây Caracalla thận trọng cho người ám sát tất cả những cố vấn thân cận nhất của cha mình, cũng như các ngự y vì đã không cho ông chết mau hơn. Caracalla và Geta bỏ dở cuộc chiến ở Anh và vội vã về La mã.

Caracalla cũng cho người giết vợ Plaurilla của mình. Bà là con gái của kẻ mà cha y sủng ái, thị trưởng Fulvius Plautianus. Caracalla đã lưu đày bà đến Sicily nhiều năm trước. Sau đó y bảo Lực lượng Vệ binh là Geta âm mưu chống lại y và ra lệnh cho họ giết em trai. Để thực hiện điều này, y phải nhờ mẹ là Julia Domna triệu hồi họ đến phòng riêng của bà, để Geta không có cận vệ đi kèm. Hai tên lính xông vào và giết Geta đang trong vòng tay của mẹ. Caracalla ép buộc mẹ nên coi việc mưu sát này là để cứu nguy đất nước. Y cũng phải vỗ về thủ hạ bình tĩnh bằng tiền bạc và rồi tiếp tục cho tàn sát bất kỳ người thân hoặc thành viên nào của gia đình Marcus Aurelius có tiềm năng là đối thủ của y. Y vẫn không dừng lại và giết luôn tất cả tay chân của Geta.

Vấn đề của Caracalla là y từ chối nghe theo lời khuyên của bất cứ ai, và căm ghét bất cứ ai biết gì đó mà y không biết. Y quyết tâm giành tất cả quyền lực về mình mà không chia sẻ cho ai khác.

Quyền công dân phổ quát (AD 212)

Trong năm 212, Caracalla tạo ra sự khác biệt căn cơ nhất cho xã hội La Mã trong hàng thế kỷ. Y tuyên bố tất cả người tự do trong biên giới Đế chế đều là công dân La Mã. Chỉ dụ này gọi là Constitutio Antoniniana. Nó kết thúc một quá trình đã kéo dài nhiều năm, nhưng đó là một cử chỉ xuất sắc, mặc dù lý do thực sự khi ban bố chỉ dụ là để thu tiền.

Caracalla quen yêu sách tiền bạc bằng sự đe dọa đối với mọi người. Y cũng áp đặt nhiều sắc thuế hơn cho dân chúng __ y nhân đôi tiền thuế giải phóng nô lệ, chẳng hạn. Caracalla cần tiền mặt hết sức cần kíp để trả lương cho binh sĩ và ban phát cho bạn bè và bọn tay chân. Vì thế ông hủy bỏ việc miễn thuế di sản của công dân La Mã. Bằng cách biến mọi người thành công dân La Mã, tất cả họ sẽ phải đóng thuế vì đó là nghĩa vụ và quyền lợi của công dân La Mã (xem lại Chương 3). Cho nên không lấy gì ngạc nhiên khi y tuyên bố ‘không ai trên thế giới cần có tiền trừ ta, và ta muốn trao số tiền ấy cho binh sĩ!’ Quân đội cũng thay đổi __ vì tư cách công dân là điều kiện để là binh sĩ của quân đoàn và là phần thưởng cho binh sĩ hổ trợ, quân đội bắt đầu tiến hóa thành một hình thức lực lượng khác.

Sự tham đắm của Caracalla

Caracalla là người khát máu không chán chê. Y thích xem cảnh chém giết trong đấu trường và thậm chí tham dự vào trò thi đấu. Y ra lệnh các nghị sĩ cung ứng những số lượng lớn thú bằng chi phí của họ; y cũng bắt họ dựng nhà cửa khắp nơi để y có thể tiện ghé dừng chân (nhưng hầu như y không hề sử dụng). Y cũng thích cởi chiến mã xa đi đây đó trong trang phục Đội Xanh (xem Chương 8) và đã có lần cho giết một vô địch chiến mã xa, tên Euprepes, chỉ vì hắn là thành viên trong đội đối thủ.

Trên chuyến đi đến xứ Gaul (Pháp), Caracalla bổng giết một Thống đốc, và nhờ một bia khắc tìm thấy ở Anh chứa một cái tên được cạo mất, hình như có thể y cũng đã ra lệnh hành hình một Thống đốc ở đó. Y cũng cho người giết bốn Nữ Đồng Trinh Vestal dựa trên nguyên cớ là họ không còn là trinh nữ nữa, cho dù chính ông đã cưỡng dâm một người trong nhóm (về Nữ Đồng Trinh Vestal, xem Chương 10).

Caracalla vênh váo tới lui với vũ khí mà y cho là đã được Alexander Đại Đế sử dụng, khăng khăng cho mình là hiện thân của Alexander, thậm chí tổ chức một lực lượng 16,000 người Macedonia theo đội hình pha-lăng nổi tiếng của bộ binh Hy Lạp. Dù vậy, y vẫn tàn sát dân chúng Alexandria chỉ vì y nghe tin người Alexandria cười nhạo y.

Ngày tàn của Caracalla

Cơ hội cho Caracalla tham chiến đầu tiên đến với trận đánh đuổi bọn quấy rối dọc biên giới sông Danube; rồi y nhắm tới việc chinh phục thêm lãnh thổ ở miền Đông. Y hỏi vua Artabanos của dân Parthia xin cưới con gái ông ta làm vợ, nhưng bị từ khước ngay lập tức, vì thế Caracalla bắt đầu mở cuộc tấn công quân Parthia. Y tới số trong chiến dịch đó vào 217 khi bị Macrinus Chỉ huy Lực lượng Vệ binh ám sát __ những sự kiện bạn có thể đọc tiếp trong chương sau.

Chương 19

Thời Đại của bọn Côn Đồ__Các Hoàng Đế Quân Nhân của Thế Kỷ Thứ Ba

Trong Chương Này

  • Tại sao một tín đồ thờ Thần Mặt Trời trở thành hoàng đế
  • Bằng cách nào hết người lính này đến người lính khác trị vì Đế chế La Mã
  • Tại sao Đế chế bắt đầu chia tách ra
  • Bằng cách nào Aurelian và Probus chỉnh đốn thế giới La Mã

Trước triều đại Severus 193-235, các hoàng đế đã trị vì cùng với Viện nguyên lão, thường thận trọng hành động và gặp nhiều rắc rối khi cố duy trì vẻ bề ngoài của hệ thống Cộng Hòa cổ xưa. Nhiều hoàng đế có ý thức thực sự về bổn phận và trách nhiệm đối với nhà nước và nhà nước là trước tiên.

Septimius Severus (xem Chương 18) đã thay đổi tất cả. Ông cầm quyền tuyệt đối. Đế chế La Mã trở thành một công cụ cho ông sử dụng để thăng tiến mình và gia đình mình. Severus có đủ uy tín cá nhân để giữ vẹn Đế chế, nhưng binh sĩ biết rằng họ đang nắm lá bài tẩy. Macrimus, Elagabalus, và Severus Alexander được làm hoàng đế nhờ binh lính; Viện nguyên lão không có sự lựa chọn. Trong bất kỳ trường hợp nào, người ta không còn nhận ra diện mạo của Viện nguyên lão như trong thời Augustus. Có nhiều nghị sĩ hơn, rất ít đến từ Ý, và hầu hết rất ít thời gian hoặc không hề có mặt ở La Mã. Thời gian này hoàng đế làm ra luật và Viện nguyên lão chỉ có việc đóng dấu chuẩn y.

Quyền lực tuyệt đối trong thế giới La Mã là quân đội. Trước đây cũng vậy, nhưng bây giờ thì nó tuyệt đối lộ liễu, và binh lính biết rõ điều ấy. Quân đội tạo ra và lật đỗ hoàng đế. Vì quân đội La Mã không bao giờ là một tổ chức duy nhất mà là tập hợp cả chục đơn vị rải rác trên khắp Đế chế, nên có nhiều đối thủ tiềm năng tranh giành ngôi báu. Trong 50 năm tới, Đế chế La Mã tự chia da xẻ thịt.

Tên Côn Đồ Đầu Tiên Lên Ngôi:

Marcus Opelius Macrinus

Marcus Opelius Macrinus đến từ Caesarea tại Mauretania ở Bắc Phi. Không có nhiều thông tin về ông vì ông có xuất thân khiêm nhượng. Tuy vậy, ông đã leo lên bậc thang từ số không đến vị thế kỵ sĩ. Dù không rõ lai lịch, ông vẫn là một luật sư có tiếng tăm biết tôn trọng pháp luật. Điều này chắc chắn giải thích tại sao ông được giao một chức vụ đầy uy tín là quản lý tải sản riêng của Caracalla. Sau đó Macrimus thăng đến chức Chỉ huy Lực lượng Vệ binh, một chức vụ ông làm quá tốt đến nỗi ông được giao toàn quyền hoạt động.

Làm cách nào chiếm được ngôi vua

Một nhà bói toán Phi châu cho biết Macrinus và con trai ông Diadumenian có số làm hoàng đế. Lời tiên đoán này khiến Macrinus sợ hãi vì lỡ Caracalla biết được ông khó tránh khỏi tội chết. Vì thế ông mau chóng bày mưu ám sát Caracalla trong khi đang trên chiến dịch.

Macrinus đủ khôn ngoan để loan tin là một nhóm binh sĩ đã âm mưu ám sát Caracalla, vì thế tay ông vẫn còn sạch. Để che mất dấu vết, ông vận động cho Caracalla được phong thần, dù thật là khó kiếm một ứng viên nào ít xứng đáng hơn.

Dù giết Caracalla, Macrinus thêm ‘Severus’ vào tên mình, và thêm ‘Antoninus’ vào tên Diadumenian của con trai ông, và chọn y làm người kế vị.

Làm cách nào để mất lòng dân chúng

Dù có thể sở hữu một số tài năng nào đó, Macrinus không giữ được vị thế hoàng đế của mình tốt lắm. Đã không

được lòng dân chúng vì xuất thân tầm thường, ông còn phạm một số sai lầm và hành động thiếu suy xét:

  • Ông để mất lãnh thổ La Mã. Sau khi giết Caracalla, Macrinus tiếp tục chiến dịch chống lại Parthia, nhưng sau khi để thua hai trận, ông ký hòa ước đình chiến với điều khoản phải giao nộp xứ Armenia. Đây là một nước đi tệ hại, vì nó khiến ông như là một kẻ thua cuộc và đánh mất uy tín ông có thể có qua việc mưu sát Carracalla.
  • Ông không loại được những ứng viên tiềm năng dòng họ Severus khác lên kế vị. Macrinus đã quên là bà vợ góa của Septimius Severus, Julia Domna __ người đã tự tử sau khi Caracalla chết __ có một em gái (xem mục sau, ‘Làm cách nào để đánh mất ngôi báu’).
  • Ông đã chỉ định vài quan chức không thích hợp. Macrinus thăng chức Adventus, một cựu do thám hoàng gia. Macrinus cho Adventus làm nghị sĩ, quan chấp chính, và thậm chí thị trưởng La Mã, mặc dù Adventus vừa già vừa mù, không có kinh nghiệm quan trường, và dốt nát không biết cách thức vận hành của chính quyền La Mã. Mục đích của việc này hình như là để dư luận quay hướng chú ý khỏi xuất thân mơ hồ của Macrinus, nhưng cùng với một số bổ nhiệm không thích hợp và lối xử sự kiêu ngạo, tất cả đều xúi giục sự bất mãn.
  • Hành vi của ông xa rời binh lính. Macrinus có sở thích kỳ lạ là tham gia vào trò kịch câm; ông cũng khoái mang trâm cài đầu và thắt nịt có đính vàng và đá quý. Đối với binh sĩ, việc này quá suy đồi và y chang sở thích của dân man rợ. Việc Macrinus nhởn nhơ trong cuộc sống xa hoa trong khi họ sống gian khổ trong các pháo đài làm họ khó chịu. Tất cả những điều này gộp thành một danh sách những điều bất mãn, khiến cho họ cảm thấy giết ông ta là điều hoàn toàn đúng đắn.

Làm cách nào để đánh mất ngôi báu

Macrinus cuối cùng bị Julia Maesa, em gái của Julia Domna, và Julia Soaemias, con gái của Julia Domna, truất phế. Họ lập con trai của Julia Soaemia là Elagabalus làm hoàng đế. Mặc dù Macrinus phái binh lính khử Elagabalus, toán lính lập tức đổi phe. Trận đánh xảy ra sau đó lại có thêm binh lính quay về phe với Elagabalus, và Macrinus tiêu đời. Ông và con trai cố tẩu thoát nhưng bị tóm ngay và bị hành hình.

Elagabalus (AD 218-222)

Mẹ của Caracalla, Julia Domna, có một em gái tên là Julia Maesa (mất năm 225). Julia Maesa là con người chứa đầy tham vọng. Bà ta giận sôi lên khi Macrinus đuổi bà ra khỏi cung điện sau khi Caracalla bị giết.

Julia Maesa không để sự kiện là bà chỉ liên hệ với Septimius Severus qua hôn nhân làm chướng ngại vật cho mình

(xem cây gia phả của dòng họ Severus trong Hình 19-1). Bà quyết định là cháu ngoại mình, Elagabalus và Severus

Alexander, là những ứng viên lý tưởng để thay thế Macrinus. Cũng có một tin đồn có ích cho rằng Caracalla chính là cha thực sự của Elagabalus (y cũng trông giống Caracalla nữa), điều mà Maesa lợi dụng cho tính toán của mình vì Caracalla quen thuộc với quân đội có thể giúp bà đạt được ý nguyện.

1

Hình 19-1: Chữ m trong hình là viết tắt của ‘marry’ tức ‘kết hôn với’.

Maesa dùng tiền khối để mua lòng binh lính tại Emesa ở Syria, và họ tuyên bố Elagabalus là hoàng đế năm 218. Elagabalus lấy tên Marcus Aurelius Antoninus để người ta lầm tưởng y là dòng dõi của Marcus Aurelius.

Chàng trai 14 tuổi Elagabalus có thể đã là Hoàng đế, nhưng người thực sự điều hành là bà ngoại y Julia Maesa và mẹ y Julia Soaemias (Julia Soaemias được phép dự các phiên họp của Viện nguyên lão). Họ đã lập ra một triều đại mới nhà Severus phương đông ở La Mã. Lúc đầu, La Mã chào đón Elagabalus vì y đẹp trai và hình như tốt hơn Macrinus, nhưng ngày từ ngày đầu y không thèm đá động gì đến việc nước. Người La Mã khiếp đảm vì những điều xảy ra sau đó.

Thần linh của Elagabalus

Tên thật của Elagabalus là Varius Avitus Bassianus. Y là tín đồ cuồng nhiệt của thần mặt trời Heliogabalus tại Emesa, và từ đó có tên hiệu của y.

Thần Mặt Trời Heliogabalus được tôn thờ tại Emesa ở Syria mà biểu tượng là một khối đá hình nón màu đen, được mọi người tin là rơi xuống từ tầng trời và nằm yên tại đó. Thật ra, có thể đó là một khối thiên thạch. Sau khi y lên làm hoàng đế, Elagabalus mang khối đá đến La Mã.

Elagabalus chỉ có một chương trình nghị sự nghiêm túc: áp đặt dân chúng thờ cúng Thần Mặt Trời và ngăn cấm bất cứ giáo phái nào khác ngoại trừ giáo phái Thái Mẫu, một giáo phái phương Đông khác. Nhằm mục đích đó, y cho xây một đền thờ dâng cúng Thần Mặt Trời.

Chính quyền của Elagabalus

Tin đồn làn nhanh nói rằng Elagabalus là người đồng tính, cách thức y đóng vai ‘Vệ nữ’ cho những mục đích giao hợp, và mối thích thú của y dành cho các tay ‘to củ’ được y giao cho những trọng trách đặc biệt. Chẳng hạn, y phong một thợ cạo chức đội trưởng bộ phận cung ứng ngũ cốc và một tên đánh xe lừa chức thu thuế di sản. Elagabalus bán tất bất kỳ chức quan và đặc quyền nào có thể chỉ để thu gom tiền mặt. Các thủ hạ được giải phóng của ông được cho làm chỉ huy quân đoàn hoặc Thống đốc các tỉnh lỵ. Người y sủng ái và ‘cưới’ là một vận động viên tên Zoticus thì hành xử kiêu căng và hống hách trong cung điện.

Các phụ nữ của Elagabalus

Người vợ đầu tiên của Elagabalus trong cuộc hôn nhân do bà ngoại ông Julia Maesa sắp xếp là Julia Paula, người mà y chán ghét. Điều đó không có gì ngạc nhiên vì cô ta xuất thân từ một gia đình quyền quí La Mã chính thống. Y ly hôn cô vào 220, và cô rút lui vào bóng tối. (Nhờ đó mà cô ta sống sót được sau những vụ lộn xộn xảy ra sau này).

Người vợ thứ hai của y là nhân tình của y và là Nữ Đồng Trinh Vestal có tên Aquileia Severa. Hôn nhân của họ gây ra nhiều phẫn nộ, cho dù Elagabalus tuyên bố với Viện nguyên lão là các con cái sau này của họ chắc chắn là siêu phàm, y cũng phải ly hôn với cô ta.

Cô vợ thứ ba là Annia Faustina, một hậu duệ của Marcus Aurelius. Cuộc hôn nhân này rõ ràng là một nỗ lực nhằm củng cố vị thế đã rệu rã của y. (Trong thời gian ở với cô vợ thứ ba, y vẫn đi lại với Aquileia, người mà hình như y yêu thích thật sự, mặc dù hành động ấy chỉ làm y bị chán ghét thêm hơn bao giờ hết.)

Đọc thêm: Sở thích của Elagabalus

Elagabalus dành cả đời miệt mài trong lạc thú. Sau đây là một vài sở thích đặc biệt của y trong vô số điều mà y thích:

  • Hồ bơi của y phải được xức hương hoa nghệ
  • Y có những ghế dài làm bằng bạc và gối dựa được nhồi bằng lông thỏ và lông chim trỉ.
  • Y nuôi sư tử và beo làm thú cưng.
  • Giới thiệu cả những hoạn quan và xe tứ mã trong các tiệc chiêu đãi.
  • Y lái những xe kéo bằng những con thú khác nhau như voi, hưu, cọp, chó, và sư tử.
  • Y mặc y phục làm bằng lụa nguyên chất __ người đầu tiên ở La Mã làm như thế __ và không bao giờ mang cùng một đôi giày đến hai lần.
  • Y đôi khi mời tám người có cùng khuyết tật đến ăn chiều, như tám người điếc, tám người một mắt, hoặc tám người hói đầu.

Ngày tàn của Elagabalus

Elagabalus đi quá xa khi y quyết định xử tử em bà con của y là Alexianus (người sau này kế vị dưới tên Severus Alexander, xem mục sau). Alexanius, được Elagabalus công nhận vào năm 221 là người kế vị của y, là một thanh tiên đàng hoàng được binh sĩ yêu mến. Elagabalus tự nhiên nổi cơn ra lệnh hành huyết Alexanius. Binh lính phải ùa tới giải cứu Alexanius, mẹ và bà ngoại y bảo Elagabalus nếu y muốn ở lại làm hoàng đế thì phải tống cổ bọn sủng ái và từ bỏ những trò suy đồi.

Elagabalus giả vờ nghe lời, nhưng y vẫn còn rắp tâm muốn giết Alexanius. Vào ngày 6/3/222, các pháp quan không còn chịu nổi __ Elagabalus cùng với mẹ y Julia Soamias bị sát hại và thi thể của họ được kéo lê khắp La Mã trước khi bị quăng xuống sông Tiber. Không có hoàng đế nào trước đây, cho dù đồi trụy cách mấy, bị đối xử nhục nhã như thế.

Severus Alexander (AD 222-235)

Mặc dù xuất thân từ một gia đình đặc biệt tai tiếng, và ông anh bạn dì là hoàng đế Elagabalus đồi trụy, Alexianus hoàn toàn là một thiếu niên đàng hoàng. Thật ra, nếu được sinh ra sớm hơn một thế kỷ trong một thời kỳ tốt đẹp, chàng có thể là một trong số Năm Vị Minh Quân của thế kỷ thứ hai (xem Chương 17). Chàng chỉ mới 13 tuổi khi được phong làm hoàng đế, đổi tên từ Alexianus thành Alexander và trở thành Marcus Aurelius Severus Alexander.

Một chút ổn định trong một biển cả hỗn loạn

Trở lại thế kỷ thứ nhất, Nero (54-68) đã căm ghét bà mẹ Agrippina cứ khống chế y nên giết bà (xem Chương 16). Nhưng Alexander không làm chuyện đó __ chàng chịu đựng và câm nín. Chàng chịu sự khống chế của bà ngoại Julia Maesa cho đến khi bà chết năm 226 và sau đó mẹ chàng Julia Mamaea, người thậm chí tuyên bố mình là Augusta, và xử sự như thể mình là nữ hoàng.

Julia Mamaea không phải là người ngu. Biết là sự sống của mình và con trai sẽ gặp nguy nếu có thêm một tình trạng hỗn loạn quân phiệt nữa, nên bà quyết rằng tỏ vẻ tôn trọng rất mực đối với Viện nguyên lão sẽ được đền đáp. Vì thế 16 nghị sĩ được chỉ định thành lập hội đồng đế chế, và một nghị sĩ được tuyển chọn làm Trưởng pháp quan. Đó là Domitius Ulpianus, một trong những luật sư kiệt xuất nhất trong lịch sử La Mã. Nhưng trong thực tế ông điều hành chính quyền của Đế chế La Mã dưới sự giám sát của Mamaea.

Các quan chức hành chính thuộc giới kỵ sĩ dưới quyền Ulpianus nói chung làm việc tốt, và Đế chế La Mã tạm thời trở lại ổn định và tỉnh táo. Trong khoảng thời gian mười năm miền biên giới được yên bình, việc trợ cấp cho quần chúng được duy trì ở mức hợp lý, giáo viên được trợ cấp tiền, tiền hỗ trợ cho các gia đình nghèo được tăng lên, và triều đình thực hành chính sách tiết kiệm để chi trả cho các mục này.

Nhưng không phải tất cả đều vừa lòng: Ngày tàn của Alexander và Julia

Mặc dù một chính quyền ổn định hơn mang lại nhiều lợi ích, nhưng còn xa mới như kỳ vọng. Trưởng pháp quan Ulpianus bị binh lính trong ban pháp quan của ông ám sát vào 228. Chúng cũng tính giết luôn sử gia Dio Cassius, quan chấp chính vào 229, với lý do là ông tỏ ra quá khắt khe với chúng. Nhưng Dio được cứu sống kịp lúc khi Alexander bãi nhiệm ông.

Và tiếp theo đó là việc ở biên giới. Đế chế Parthia sụp đổ vào 230, và chỗ trống quyền lực rơi vào tay vương triều Ba Tư có tên Sassanid dưới triều vua Ardashir, quyết tâm giành lại vùng đất mà người Ba tư đã từng làm chủ __ có nghĩa là phần lớn lãnh thổ của Đế chế La Mã ở miền Đông. Alexander đánh bại Ardashir với giá nhân mạng rất đắt, làm uy tín ông sứt mẻ. Trong khi đó, bộ tộc Alamanni ở Đức quyết định lợi dụng cuộc chiến miền Đông. Alexander phải quay về vùng biên giới Đức vào 234, nhưng binh lính ông nổi loạn và ông đành phải nộp Alamanni một số tiền để họ chịu đình chiến.

Chiến tranh biên giới là thời cơ mà Maximinus Thrax đang chờ đợi. Y phục vụ dưới quyền Alexander trong cuộc chiến miền Đông và bây giờ là một trong những chỉ huy trong cuộc chiến ở Đức. Trong mắt binh lính bất mãn vì tài cầm quân yếu kém của Alexander thì Maximinus có vẻ trội hơn hẳn. Thế là Alexander và Julia Mamaea liền bị ám sát trong doanh trại của họ gần Mainz ở Đức.

Chỉ cần nháy mắt là bạn sẽ mất hút họ: Một đám các hoàng đế tiếp sau Alexander

Nếu không có các đồng tiền in chân dung các hoàng đế quân nhân này chúng ta sẽ hiểu ít hơn nhiều về họ. Các đồng tiền cung cấp tên, chân dung, và những ghi chép một số thành tích của các nhà trị vì này và trong một số trường hợp đó là những chứng cứ duy nhất mà ta có. Các chân dung hoàng đế từ những năm AD 235-284 kể cho ta nghe câu chuyện. Hầu hết chúng cho thấy những tên vô lại râu ria xồm xoàm, trông tàn bạo vì họ là những hoàng đế phải cầu lụy với binh sĩ. Thường thường những người đi lên từ hàng ngũ quân đội, họ ít để ý hoặc bất cần Viện nguyên lão hoặc các phẩm chất truyền thống La Mã, mặc dù tất nhiên họ cũng giả vờ quan tâm. Không một người nào chết yên lành trên giường. Nếu họ cố tránh được, thì kẻ thù của La Mã cũng chực chờ ở biên giới và bắt đầu tiến vào để giết họ.

  • Maximinus ‘Thrax’ I (235-238): Y là người khởi đầu. Một con người vạm vỡ, y đánh quân Đức ra trò, nhưng y thô bạo và hung dữ và căm thù bọn quý tộc La Mã. Viện nguyên lão cố loại y bằng cách hỗ trợ một cuộc đảo chính do Thống đốc Phi châu là Gordianus dẫn đầu.
  • Gordianus I và Gordianus II (238): Nguyên Thống đốc Phi châu trị vì ngắn ngủi cùng với con trai, nhưng bạn bè của Maximinus tìm cách giết chết họ.
  • Balbinus và Pupienus (238): Viện nguyên lão phong hai nghị sĩ này làm cặp hoàng đế vào 238. Các pháp quan giết họ, cùng lúc đó các thủ hạ của Maximinus cũng nổi loạn và giết y.
  • Gordianus III (238-244): Cháu nội của Gordianus I được phong hoàng đế. Y bị giết trong chiến dịch chống quân Ba Tư bởi Chỉ huy Lực lượng Vệ binh, có tên Philip I người Ả rập, trở thành hoàng đế tiếp theo.
  • Philip I người Ả rập (244-249): Philip đánh bại quân Ba Tư và làm lễ chào mừng một ngàn năm La Mã với vô vàn cuộc thi đấu thể thao. Philip cử Thống đốc vùng Hạ Moesia, Trajan Decius, đi đánh dẹp cuộc nổi loạn trong quân đoàn Danube. Nhưng nhóm binh sĩ nổi loạn tôn Trajan Decius làm hoàng đế, và y đánh bại và giết chết Philip trong một trận đánh gần Verona.
  • Trajan Decius (249-251): Decius trị vì hai năm, bắt đầu ngược đãi không thương tiếc các tín đồ Cơ đốc. Trajan Decius bị giết chết trong trận đánh nhau với người Goth.
  • Trebonianus Gallus (251-253): Y thay thế Decius và trị vì cùng với con trai Hostilian của Decius. Gallus ký hòa ước đầy nhục nhã với người Goth, nhưng công bình mà nói các mối đe dọa nơi biên giới quả là một vấn đề nan giải đối với bất kỳ hoàng đế nào. Y cũng đương đầu với một bệnh dịch tai ách quét qua thế giới La Mã và giết chết Hostilian. Gallus bị giết năm 253 dưới tay các binh lính của mình chỉ vì họ thích được một Thống đốc có tên Aemilian trị vì, người đã đánh bại quân Goth một cách vẻ vang.
  • Aemilian (253): Aemilian chỉ trị vì khoảng ba tháng vì bị Valerian, người tập họp binh sĩ trợ giúp Gallus, mưu sát.

Valerian I (AD 253-260) và Gallienus (253-268)

Valerian là một người đàng hoàng, nhưng ông đối mặt với những hậu quả của những năm vô chính phủ khiến việc phòng thủ miền biên giới đều rệu rã. Ông trị vì cùng với con trai mình Gallienus, biết rằng đó là cách duy nhất để giải quyết những rắc rối biên giới và điều hành Đế chế. Vào 256, Valerian lên đường đánh vua Shapur của vương triều Sassanid Ba tư.

Trong khi cha mình đánh ở miền Đông, Gallienus có trách nhiệm giữ gìn các tỉnh miền tây của Đế chế La Mã, đang bị hoành hành bởi các cuộc nổi dậy, bệnh dịch, và đói kém. Vào 262, theo ngay sau một trận động đất thảm họa tàn phá các thành phố ở châu Á và rung lắc La Mã, một bệnh dịch tràn đến La Mã, mà ở thời điểm cao nhất, được cho là giết hơn 5,000 người chỉ trong một ngày quét qua Đế chế. Ở miền Đông Gallienus đương đầu với quyền lực đang lớn mạnh của người Palmyrene, và ở miền Tây một sự kiện chưa từng có tiền lệ xảy ra: Một phần của Đế chế La Mã tách ra để tạo thành Đế chế Gallic.

Valerian qua đời và một cuộc nổi loạn khởi phát

Bốn năm dấn thân vào cuộc chiến chống quân Ba Tư vào 260, quân của Valerian tê liệt vì bệnh dịch. Giữa lúc đàm phán hòa bình, Valerian bị Chapur bắt được và mất trong tù. Đó là một sự ô nhục chưa từng có đối với một hoàng đế La Mã.

Một viên sĩ quan tên Macrianus trong quân đội của Valerian nhanh chóng chộp lấy thời cơ và tuyên bố hai con trai của mình, Macrianus Trẻ và Quietus, là hoàng đế vào năm 260. Hai người liền tiến về miền tây để trừ khử con trai Gallienus của Valerian.

Sự kiện ở Palmyra

Palmyra, một ốc đảo trên con đường mậu dịch lớn vào xứ Mesopotamia và xa hơn về hướng đông, là một trong những thành phố lớn nhất và giàu có nhất trong Đế chế La Mã miền Đông. Dân tộc này có nguồn gốc du cư, và họ đã sử dụng truyền thống này khi Mark Antony cố chiếm Palmyra vào 41 BC để cướp bóc của cải. Nghe tin ông sắp đem quân đến, dân chúng dùng xe bò, xe ngựa chở hết của cải băng qua sông Euphrates, và khi quân Antony đến, họ chỉ thấy một thành phố trống rỗng. Về sau, Palmyra được các hoàng đế La Mã khác nhau, ban cho những đặc quyền, trong đó có quyền đánh thuế tất cả phương tiện chuyên chở đi qua thành phố, khiến họ lại càng giàu có hơn. Palmyra được Septimius Severus (193-211) biến thành thuộc địa La Mã (xem Chương 18). Publius Septimius Odaenathus là một thành viên của gia đình người Palmyra quan trọng nhất và tự tuyên bố mình là Vua Palmyra sau khi Valerian bị giết vào 260.

Thật ra, Odaenathus đã làm giúp Gallienus một việc vì đây là các duy nhất để miền Đông có thể được giữ vững nhằm chống lại người Ba Tư và trừ khử Quietus. Gallienus phong Odaenathus làm ‘Công tước miền Đông’ và chỉ huy tất cả lực lượng La Mã trong vùng. Odaenathus tấn công và giết chết Quietus tại Emesa vào 261.

Dưới quyền chỉ huy của Odaenathus, Palmyra trở thành quyền lực chủ yếu ở miền Đông La Mã. Odaenathus chiếm lại Mesopotamia cho Đế chế La Mã và được phong danh hiệu imperator (thống soái). Nhưng lực lượng của Palmira lớn mạnh không ai kềm chế. Odaenathus bị ám sát năm 267 do một âm mưu trong triều đình Palmyra. Con trai ông Vabalathus kế vị ngai vàng, nhưng phải chia sẻ quyền hành với bà mẹ xinh đẹp, thông minh, và đầy tham vọng Zenobia. Nhưng thời gian không còn nhiều cho người Palmyra.

Đế chế Gallic tách rời

Valerian đã phong Marcus Cassianus Latinius Postumus làm tư lệnh lực lượng đồn trú sông Rhine. Năm 259, Postumus được binh đoàn của mình tuyên bố là hoàng đế. Không như những người tham quyền khác, ông không ngu để nghĩ là mình có thể ôm cả Đế chế về mình.

Postumus có quyền kiểm soát Gaul, Tây Ban Nha, và Anh, và ông điều hành vùng này như một Đế chế La Mã đúng nghĩa. Ngày nay vùng này được biết dưới tên Đế chế Gallic. Thật đáng kinh ngạc vì ông thiết lập đầy đủ ban bệ như một hoàng đế La Mã, có cả Viện nguyên lão cùng ban chấp chính và đầy đủ quan chức của riêng mình. Ông là nhà trị vì nói chung được yêu mền và biết điều, nỗ lực cải cách tiền đồng và đặt ra tất cả phẩm chất La Mã thích hợp. Điều khác biệt duy nhất là trung tâm Đế chế của ông không đặt ở La Mã mà ở Trier.

Cái chết của Gallienus và hoàng đế kế vị, Claudius II

Gallienus có học hành, quan tâm đến văn hóa Hy Lạp, và khoan dung với đạo Cơ đốc. Ông trọng vọng những người có năng lực, nên những quân nhân có kinh nghiệm lên đến vị thứ kỵ sĩ được ông sử dụng làm chỉ huy các quân đoàn của mình và không ngừng tin dùng bộ phận tinh nhuệ của binh đoàn cơ động cử đến những vị trí xung yếu, rắc rối.

Gallienus đẩy lui cuộc xâm chiếm Hy Lạp của bộ tộc Đức tên là Heruli. Ông đã để lại một vị tướng tên Acilius Aureolus đương đầu với Postumus, nhưng Aureolus chớp thời cơ kéo quân về La Mã. Gallienus đuổi theo chặn y lại và vây hãm y tại Milan, tại đó ông bị một số sĩ quan của mình, trong đó có các hoàng đế tương lai Claudius II và Aurelian, mưu sát vào 268. Cái chết của Gallienus là một sự lãng phí.

Claudius II Gothicus (268-270) là một đồng mưu trong vụ sát hại Gallienus. Ông đạt được tên hiệu ‘Gothicus’ này sau một thắng lợi lớn trước người Goth trong Trận Naissus. Ông trị vì ngắn ngủi do chết vì bệnh dịch năm 270, một trường hợp hiếm hoi của một hoàng đế không chết vì bị mưu sát trong thế kỷ thứ ba.

Aurelian (AD 270-275)

Kế vị Claudius II là một tướng lãnh kiệt xuất có tên Aurelian. Aurelian là một hoàng đế La Mã hiếm hoi trong thế kỷ thứ ba có khả năng kiểm soát được quân đội, dẹp tan các cuộc nổi loạn, giữ vững biên cương, và giải quyết thỏa đáng những vấn đề nội bộ. Ông ổn định được xung đột với Palmyra và lấy lại Đế chế Gallic cho La Mã. Trong lễ hội chiến thắng tổ chức tại La Mã để mừng các thắng lợi của mình, ông mời Tetricus của Đế chế Gallic và Zenobia của Palmyra diễu hành chung với mình, nhưng ông cấp dưỡng và cho phép họ sống hết đời trong yên bình.

Tiêu diệt Palmyra

Ở Palmyra, khi Vabalathus được tuyên bố làm hoàng đế vào 271, đó là cái gai cuối cùng đối với Aurelian. Aurelian hành quân về đông và đánh bại quân Palmyra tại Antioch và Emesa. Sau đó ông vượt qua sa mạc và vây hãm Palmyra. Trong cuộc vây hãm, Zenobia bị bắt trong khi đang cố tẩu thoát và thuê quân tiếp viện Ba Tư. Bà bị truất phế, và một lực lượng đồn trú được thiết lập. Aurelian tiếp tục tiến về Danube để giải quyết vấn đề biên giới thì được tin một cuộc nổi dậy ở Palmyra đã giết sạch toàn bộ binh đồn trú. Aurelian tức tốc quay về Palmyra và làm cỏ và phá hủy toàn bộ thành phố. Palmyra chỉ được phát hiện lại vào những năm 1700 bởi những nhà du lịch châu Âu.

Kết thúc của Đế chế Gallic

Mọi việc bắt đầu đi sai lệch ở Đế chế Gallic vào năm 268 khi một cuộc nổi dậy chống Potumus bị dẹp yên. Postumus không cho binh sĩ được cướp bóc Mainz để trừng phạt. Thế là họ giết ông. Và một số các hoàng đế ngắn ngủi nối tiếp sau, kết thúc với Tetricus I (270-273) và con trai Tetricus II của y. Aurelian, vừa trở về sau cuộc hủy diệt Palmyra, xâm chếm Gaul vào 273. Hai hoàng đế nhà Tetricus nhanh chóng (và khôn ngoan) đầu hàng, và đó là kết thúc của Đế chế Gallic.

Aurelian và việc nội bộ

Aurelian nỗ lực cải cách tiền đồng và kết thúc tình trạng lạm phát với đôi chút thành công, sử dụng tiền chiếm được của người Palmyra để phát bánh mì, thịt cá, dầu ăn, và muối cho dân chúng La Mã. Ông chỉnh đốn các bờ kè sông Tiber và bắt đầu chuyển các nghiệp đoàn vận tải và lương thực thành các tổ chức bán chính thức để thăng tiến thương mãi và sản xuất.

Cái chết của Aurelian

Vào năm 275, Aurelian, đang ở Thrace trên đường giải quyết vấn đề Ba Tư một lần nữa, thì bị các sĩ quan trong Lực lượng Vệ binh ám sát vì được một viên thư ký triều đình mật báo (một tin sai) là họ có trên danh sách bị hành hình. Vô cùng xấu hổ trước hành động của mình, các binh lính yêu cầu Viện nguyên lão chọn lựa hoàng đế kế vị, lần đầu tiên một việc như thế xảy ra kể từ cuộc lên ngôi của Nerva vào 96.

Viện nguyên lão chọn một nghị sĩ lớn tuổi có tên Tacitus sau sáu tháng đình hoãn. Tacitus đánh bại quân Goth ở Tiểu Á nhưng qua đời vì tuổi già sau thời gian trị vì chỉ khoảng bảy tháng trong mùa hè 176. Em trai cùng cha khác mẹ của ông là Florianus, Chỉ huy Lực lượng Vệ binh, tuyên bố mình là hoàng đế. Rủi thay, y không phải là ứng viên duy nhất. Probus, vị tướng trước đây của Aurelius ở miền Đông, cũng được tôn làm hoàng đế. Các binh lính của Florianus quyết rằng Probus là người xứng đáng hơn nên giết quách Florianus.

Probus (AD 276-282)

Probus vừa trẻ, vừa khôn, vừa có năng lực để phục hưng thế giới La Mã. Ông tiến quân về La Mã và được Viện nguyên lão chuẩn y, và lập tức hành quân tiến đánh các bộ tộc Đức và đạt thắng lợi, luôn tiện dẹp yên các cuộc nổi loạn ở Anh, Gaul, và Đức. Thậm chí ông còn thuê một số tù binh chiến tranh để sung vào quân ngũ nhằm củng cố lực lượng của mình.

Probus luôn bắt binh lính của mình bận bịu với việc thực hiện các dự án xây dựng và thậm chí canh tác ruộng nho khi họ rảnh rang không đánh trận. Những lời đồn rỉ tai đến binh lính báo tin Probus sắp cho giải ngũ một bộ phận lớn quân đội vì điều kiện đã chín mùi. Tin này thật không thuận tai với đám binh lính đã bất mãn vì bị khổ sai trên công trường xây dựng, và kết quả là Probus bị các binh lính trong các tỉnh lỵ Raetia và Noricum giết chết. Thật là lãng phí một hoàng đế có tiềm năng.

Kết Thúc Thời Kỳ Nguyên Thủ

Tình hình trở nên hỗn loạn lần nữa theo sau vụ mưu sát Probus. Binh lính sát hại Probus tuyên bố Chỉ huy Lực lượng Vệ binh Carus là hoàng đế vào 282. Carus (282-283) nhanh chóng chỉ định các con trai mình là Numerian và Carinus làm người kế vị và hành quân cùng với Numerian tiến đánh quân Ba Tư Sassanid. Carus đánh bại quân Ba Tư nhưng gặp một vận rủi bất ngờ trong doanh trại: Ông bị sét đánh chết bất đắc kỳ tử. Ít nhất đó là sự kiện được loan ra. Một tin tức khác cho rằng ông bị cha vợ của Numerian là Aper, Chỉ huy Vệ binh, giết chết để con cháu mình lên ngôi một cách nhanh nhất. Dù gì đi nữa, Numerian (282-284), người thích làm thơ hơn đánh trận, trở về La Mã nhưng bị giết chết một cách bí ẩn trong kiệu vào 284, chắc chắn bởi Aper. Chỉ còn Carinus (282-285) ở lại gánh vác nhiệm vụ.

Vào mùa xuân 285, Diocles, Chỉ huy Vệ sĩ hoàng đế, được quân đội miền Đông cử đi trả thù cho Numerian. Diocles tiến quân về tây và gặp quân của Carinus gần Danube. Carinus, vốn không được ai ưa, bị tùy tùng mình giết chết, và binh lính của y quay về phe Diocles.

Cái chết của Carinus đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ nguyên thủ, một hệ thống được Augustus thiết lập cách đây 300 năm và đã tiến hóa qua những năm tháng. Trong một tình huống khó nắm bắt, là người nhìn xa trông rộng, ông ngộ ra rằng thế giới La Mã đã thay đổi không còn nhận ra. Nó cần một hệ thống mới, và cần khẩn cấp, và ông đoan chắc mình là người mang lại điều đó.

Chương 20

Đông là Đông và Tây là Tây __Diocletian và Constantine

Trong Chương Này

  • Diocletian tạo ra một trật tự hoàn toàn mới như thế nào
  • Vị hoàng đế nổi loạn xấc láo nhất hơn hết thảy
  • Tại sao hệ thống mới tan rã
  • Constantine Đại Đế đã đổi hướng đi của lịch sử nhân loại như thế nào
  • Các người tiếp nối Constantine đã xé nát Đế chế một lần nữa như thế nào

Vào cuối thế kỷ thứ ba, thời kỳ mà hoàng đế trị vì từ La Mã, hoặc tập trung giải quyết từng trận chiến một, đã qua lâu rồi. Các hoàng đế La Mã, tốt hay tệ, đều bỏ hầu hết thời gian vào chiến dịch. Thay vì chỉ trông cậy vào lực lượng đồn trú đóng chốt từ lâu trên khắp thế giới La Mã, những đơn vị cơ động cao được thành lập để binh lính có thể điều động từ nơi rắc rối này đến nơi rắc rối khác. Khi các hoàng đế không đánh đấm nhau, họ chuyển quân từ biên giới này đến biên giới khác, chống đỡ và phòng vệ, đẩy lùi bọn man rợ, và thương thảo hòa bình. Các bờ biển xứ Anh và Gaul, chẳng hạn, bị bọn cướp biển từ Bắc Âu quấy nhiễu, vì thế một chuỗi các phức hợp phòng thủ được củng cố dọc bờ biển được thiết lập để giúp bảo vệ thương mãi, thị trấn, điền trang, và nông trại. Những pháo đài mới cũng được xây dựng trên vùng biên giới mới.

Trong khi đó, xã hội trên khắp Đế chế La Mã đang biến đổi. Cuộc diễu hành vô tận của những hoàng đế nổi loạn phá vỡ chính quyền tỉnh lỵ. Khi những số lượng lớn tài nguyên được đổ vào quân đội và lực lượng phòng thủ, các dân tỉnh bổng thấy mình bị đánh thuế để tài trợ cho các cuộc nổi loạn khác nhau cũng như cho quân đội chính qui. Một số mất cả đất đai và kế sinh nhai bèn lập ra những băng nhóm cướp bóc sống ngoài vòng pháp luật.

Chương này kể lại câu chuyện bằng cách nào một hoàng đế quân nhân có tên Diocletian nỗ lực biến đổi thế giới La Mã nhằm sửa sang sự thiệt hại trước khi quá trễ, và bằng cách nào một hoàng đế La Mã khác có tên Constantine ban hành một sắc lệnh làm thay đổi La Mã mãi mãi.

Diocletian (AD 284-30)

Diocles, sinh khoảng 240 trong một gia đình nghèo ở Dalmatia, suốt cả cuộc đời chứng kiến sự hỗn loạn do các hoàng đế quân nhân gây ra. Như quá nhiều hoàng đế trong thế kỷ thứ ba, ông kinh qua các cấp bậc quân đội hoàn toàn nhờ chiến công xuất sắc. Cuối cùng ông lên đến chức vệ sĩ hoàng đế dưới thời hoàng đế Numerian (282-284) và đó là lý do ông được chọn làm người trả thù cho Numerian.Khi ông trở thành hoàng đế vào 284, Diocles đổi tên thành Gaius Aurelius Valerius Diocletianus, vang vọng tên các hoàng đế thời trước.

Diocletian hành động nhanh nhẹn và quyết đoán sau khi trừ khử Carinus. Vào 285, ông phong đồng chí mình là Maximian làm Caesar và, do đó, là người kế vị. Năm sau, ông chọn Maximian là người đồng trị vì và cử ông đi Gaul để dẹp yên bọn Bagaudae, một nhóm nông dân mất đất đang phá phách vùng quê. Maximian đánh bại Bagaudae nhanh chóng, nhờ vào sự trợ giúp của một chiến binh khác có tên Carausius, mà sau này trở thành vị Hoàng đế nổi loạn thành công nhất của thời đó.

Bốn hoàng đế tốt hơn một: Tứ đầu chế

Diocletian hiểu rằng Đế chế quá rộng lớn, quá bất ổn, và quá bấp bênh nếu để chỉ một hoàng đế trị vì. Mặc dù Đế chế La Mã trước đây đã có trường hợp vài hoàng đế kết hợp trị vì, nhưng Diocletian có sáng kiến khác: Ông chia tách Đế chế thành hai nửa. Maximian trị vì vùng Tây La tinh, còn Diocletian trị vì vùng Đông Hy Lạp.

Vào 293, Diocletian lại nảy ra ý niệm Tứ Đầu Chế, trong đó bốn người cùng trị vì Đế chế La Mã. Ông chỉ định hai hoàng đế trẻ, được xem như là hai Caesar: Constantius Chlorus ở miền Tây và Galerius ở miền Đông. Constantius sẽ hỗ trợ Maximian, còn Galerius hỗ trợ Diocletian. Rồi, tại một thời điểm thích hợp trong tương lai, Maximian và Diocletian sẽ thoái vị, và Constantius và Galerius sẽ kế vị họ lên giữ danh hiệu Augustus và đến lượt mình chỉ định các Caesar.

Mỗi thành viên trong Tứ Đầu Chế có trung tâm quyền lực ở những địa điểm khác nhau. Diocletian trị vì từ Nicomedia ở Tiểu Á (Thổ nhĩ kỳ), Galerius từ Sirmium ở Serbia ngày nay, Maximian từ Milan ở Ý, và Constantius từ Trier ở Gaul. Giờ đây La Mã không còn là cứ địa của một hoàng đế. Nó quá xa vùng bất an của Đế chế.

Mục đích là tạo ra một hệ thống vận hành lâu dài trong đó việc kế vị được bảo đảm và những con người tài giỏi nhất được cắt cử vào nhiệm vụ. Về lý thuyết đó là một hệ thống tuyệt hảo, và ban đầu, nó hoạt động hiệu quả. Constantius có thể giải quyết vụ nổi loạn của bọn Carausius và Allectus ở Anh, Diocletian có thể xử lý thành công vụ nổi loạn ở Ai cập, và Galerius an định dân Ba Tư hay gây rối.

Chỉnh đốn Đế chế đổ vỡ

Trong vòng 20 năm trị vì của mình Diocletian nhiệt thành phục hồi các thành phố, đường xá, và hạ tầng. Maximian, về phần mình, tiến hành một chương trình xây dựng chủ yếu ở La Mã. (Có thể thấy có quá nhiều việc để làm và bản chất của thời đại đó nếu biết rằng Diocletian thậm chí không có thì giờ đến thăm La Mã cho mãi đến năm 303 ông mới đến lần đầu sau gần 20 năm trị vì.) Nhưng tác động lớn nhất đến từ một chuỗi các cải tổ chính yếu.

Quân đội

Diocletian bắt đầu tiến trình phân chia lực lượng quân sự hùng mạnh thành hai nửa: lực lượng cơ động chủ yếu là kỵ binh và lực lượng đồn trú biên giới. Hệ thống này được hình thành đầy đủ dưới thời Constantine I (307-337).

Tỉnh lỵ

Tỉnh lỵ được phân nhỏ, thường chia làm hai, sao cho không có Thống đốc nào đủ mạnh để có thể khởi binh làm loạn. Xứ Anh, chẳng hạn, trước đây là một tỉnh lỵ, vào thời Septimius Severus được chia làm hai, và giờ đây được chia làm bốn. Ngay cả Ý cũng phân ra như thế. Các nhóm tỉnh lỵ trong khu vực được sắp xếp thành các phân khu, có 13 phân khu tất cả, mỗi phân khu do một trưởng khu phụ trách. Các trưởng phân khu nằm dưới quyền giám sát của bốn chỉ huy lực lượng Vệ binh, mỗi chỉ huy trực thuộc một hoàng đế.

Vấn đề tiền tệ

Điều hành hệ thống mới của Diocletian rất tốn chi phí. Thuế được đánh không chỉ bằng tiền mặt mà cũng bằng sản phẩm hoặc hàng hóa mà hoàng đế cần đến. Chẳng hạn nếu bạn sản xuất sản phẩm len, thế thì bạn có thể đóng thuế cho nhà nước bằng sản phẩm len. Trả thuế bằng sản phẩm giúp giải quyết sự lạm phát. Để chấm dứt tình trạng lạm phát lên xuống của thế kỷ thứ ba, Diocletian ấn định mức giá trong một Sắc Lệnh Mức Giá Tối Đa vào năm 301. Cũng năm đó ông cũng ấn định lương bổng tối đa.Nhưng các cải cách tiền tệ và thuế khóa của Diocletian không có kết quả trong thực tế:

  • Diocletian không có đủ vàng và bạc để làm tiền đồng ổn định. Lạm phát tiếp tục gia tăng, và nhiều hàng hóa biến mất khỏi thị trường. Cuối cùng Sắc Lệnh Mức Giá Tối Đa phải thu hồi.
  • Các viên chức định mức thuế thối nát ấn định thuế cao hơn thực tế để trục lợi tiền chênh lệch.
  • Các viên chức thu thuế có thể lạm thu và bỏ túi phần chênh lệch (mặc dù nếu họ thất thu thuế, họ phải trả phần thiếu hụt).
  • Hệ thống định giá thuế khiến dân chúng không muốn phát triển việc làm ăn, sản xuất.

Thời Chuyên chế: Một trật tự mới

Kết quả của thế giới mới của Diocletian là sự bắt đầu một nhà nước chuyên chế: can thiệp vào mọi lãnh vực của cuộc sống nhân dân, và giới hạn quyền tự do và quyền đi lại. Trật tự mới được gọi là Chuyên chế vì hoàng đế giờ đây được gọi là Dominus (‘chúa tể’) và được xem như là một vị thần. Vì thế, ông ta được mô tả trong các tượng và tranh chạm nổi có mang vầng hào quang. Cũng đáng chú ý là cách thức thể hiện các hoàng đế không còn mang tính cá nhân. Mỗi thành viên trong Tứ Đầu Chế đều trông giống nhau __ một hình thức có cân nhắc khi thể hiện các nhà trị vì theo cùng một đặc điểm.

Nhưng không giống những hoàng đế điên đi trước, như Commodus (trong Chương 18) hoặc Elagabalus (trong Chương 19), Diocletian chỉ tạo ra một hình ảnh hoàng đế mới hơn là thực sự tự lừa dối trong niềm tin rằng mình thực sự là một vị thần.

Ngược đãi người Cơ đốc giáo

Vào 303, Diocletian và Maximian bắt đầu ngược đãi có hệ thống những tín đồ đạo Cơ đốc. Maximian đàn áp đạo Cơ đốc ở Bắc Phi đặc biệt dữ dội. Thật ra, việc này tại sao xảy ra vẫn còn là điều bí ẩn vì các người Cơ đốc giáo đã ít nhiều được để yên kể từ lần bức hại cuối cùng vào thời Valerian I năm 260. Diocletian thậm chí có vợ theo đạo Cơ đốc. Nhưng người đồng chí của ông Galerius lại chống đạo Cơ đốc điên cuồng. Galerius chắc hẳn đã thuyết phục Diocletian là người Cơ đốc giáo nguy hiểm và có ý lật đổ, và rằng nhà nước chuyên chính mới không có chỗ cho bất kỳ thứ tôn giáo nào phá vỡ lòng trung thành toàn tâm với chế độ. Sự ngược đãi bao gồm việc phá hủy nhà thờ và tịch thu các kinh thánh, nhưng Diocletian không cho phép gây đổ máu, có lẽ là để chiều theo ý bà vợ và cũng do ông có lòng bao dung. Đến phút lâm chung vào năm 311 bổng Galerius hoàn toàn thay đổi.

Nổi loạn ở Anh: Carausius

Trong thời trị vì của Diocletian một vụ nổi loạn phi thường bùng phát ở Anh. Theo nhiều phương diện đây là một vụ nổi loạn bất thường nhất trong suốt lịch sử La Mã, và chắc chắn là ngang ngược nhất. Vụ nổi loạn do một nhân vật ngạo mạn, trơ tráo đến kinh ngạc, và có thủ đoạn chính trị sáng tạo có một không hai, tên Carausius, cầm đầu.

Quá trình của một tên cướp biển

Mausaeus Carausius lớn lên trên bờ biển nơi là nước Bỉ ngày nay. Y đầu quân vào lực lượng của Maximian và giành được thắng lợi rực rỡ khi đánh bại bọn Bagaudae ở Gaul đến nổi được giao nhiệm vụ tiểu trừ bọn xâm nhập Saxon đang tung hoành trên Biển Bắc, đột kích thị trấn và điền trang ở xứ Gaul và Anh.

Carausius chỉ huy một hạm đội La Mã tấn kích bọn đột kích. Y đánh trận quá thành công và trở nên tiếng tăm đến nổi Maximian bực bội. Một câu chuyện loan truyền nói rằng Carausius đợi cho bọn đột kích cướp bóc và vơ vét của cải xong, thì y mới tấn công và chiếm hết những gì họ cướp được. Maximian tuyên bố Carausius là một tên tội phạm và trao thưởng cho ai bắt được y.

Có thể Maximian dựng lên câu chuyện đó vì quá ganh tỵ. Ta không biết thực hư thế nào. Nhưng điều chắc chắn là Carausius giờ không có gì để mất. Vào năm 286, y tuyên bố mình là hoàng đế xứ Anh và một phần lãnh thổ của Gaul. Y rõ ràng là được ngưỡng mộ vì không có ai chống đối điều đó.

Sự xấc xược của Carasius

Carausius là một thiên tài về tuyên truyền. Y không chỉ xưng hoàng đế mà còn

  • Lấy tên mới là Marcus Aurelius Masaeus Carausius, nhắc người ta nhớ đến Septimius Severus 80 năm về trước như cho mình là hậu duệ của những ‘vị minh quân’ của thế kỷ thứ hai.
  • Cho lưu hành đồng tiền bạc đủ lượng đầu tiên trong nhiều thế hệ (có thể từ của cải cướp được) để bảo đảm lòng trung thành của binh sĩ dưới quyền, điều mà Diocletian không thể làm được.
  • Trên mặt đồng tiền là hình một tên du côn nhưng được liên hệ với tất cả phẩm chất La Mã thích hợp như pax (‘hòa bình’) và uberitas (‘sáng tạo’) và tuyên bố đang cách tân Đế chế La Mã.
  • Lấy một câu thơ của thi hào Virgil của triều đình Augustus sáng tác cách đây 300 năm, làm khẩu hiệu trên đồng tiền của mình. Đây là một ý tưởng tuyệt đối chưa có tiền lệ. Điều Carausius muốn nói là chế độ của y là Đế chế La Mã kiểu mới. Y đang ‘phục hồi’ tất cả phẩm chất cao quí của thời Augustus nhưng ngay tại xứ Anh, chứ không tại La Mã.
  • Tuyên bố mình là một thành viên của Tứ Đầu Chế __ thêm sự sỉ nhục vào lời dối trá __ và đúc những đồng tiền in chân dung mình với Diocletian và Maximian với tiêu đề Carausius et Fratres Sui, ‘Carausius và Huynh đệ’.

Bạn có thể tưởng tượng Tứ Đầu Chế nổi nóng cỡ nào và thóa mạ Carausius là tên ‘cướp biển’ cùng những từ lăng mạ khác. Năm 289 họ cử một đội tàu toan tính hủy diệt Carausius, nhưng đội tàu bị đắm trong một trận bão.

Toi đời sau một cú đảo chính: Allectus

Carausius trị vì đến năm 293, tiếp tục ngang ngược nơi xứ Anh trước cơn thịnh nộ bất lực của Diocletian và Maximian. Nhưng rồi y bị giết chết trong một cú đảo chính năm 293 do bộ trưởng tài chính của y là Allectus cầm đầu. Allectus tự xưng là hoàng đế, nhưng việc đó không kéo dài lâu.

Đế chế phản đòn

Vào 296, một hạm đội lớn kết tập tại Boulogne trên bờ bắc xứ Gaul. Chỉ huy Lực lượng Vệ binh Asclepiodotus tiến quân vào miền nam xứ Anh, đánh một trận với Allectus, và kết liễu đời y. Trong khi đó, Constantius Chlorus dẫn một phần đội tàu đến bao vây London. Một huy hiệu lộng lẫy được phát hành để chào mừng sự kiện với dòng chữ ‘trở về với ánh sáng vĩnh hằng’.

Vụ nổi loạn đã qua. Nhưng đó không phải là vụ cuối cùng, ở Anh hoặc bất cứ nơi đâu, theo bất cứ cách nào.

Nhưng chắc chắn đó là vụ nổi bật nhất.

Như bao điều tốt đẹp khác: Tứ Đầu Chế Tan Rã

Tứ Đầu Chế là một sáng kiến tốt. Hóa ra là quá tốt cho Đế chế La Mã. Điều mà Diocletian không tính đến là những tham vọng của người khác. Vì Galerius và Constantius đã cưới con gái của Diocletian và Maximius theo thứ tự, một triều đại đang hình thành. Cũng tồn tại những đảng phái quan tâm khác, lúc nào cũng dòm ngó để thừa dịp hành động.

Ngay sau khi Diocletian và Maximian về hưu vào ngày 1/5/305, Galerius và Constantius kế vị họ như đã dự định. Galerius chỉ định người cháu đầy tham vọng của mình là Maximinus II Daia làm Caesar, còn Constantius tuyển mộ một người tên là Severus II. Về lý thuyết, Tứ Đầu Chế giờ đang trong giai đoạn tiếp theo. Nhưng rồi sự việc bắt đầu đi lệch hướng.

Quá nhiều đầu bếp

Khi Diocletian và Maximian về hưu, và hai vị Augustus mới Galerius và Constantius đã chỉ định các Caesar riêng của mình (Maximinus II Daia và Severus II, theo thứ tự), một số ít người hơi bất bình bởi những sự kiện xảy ra, đặc biệt

  • Maxentius: Con trai của Maximian
  • Constantine: Con trai của Constantius I với người vợ trước
  • Licinius: Con trai nuôi của Diocletian

Nếu điều đó nghe như một điều kiện chín mùi cho tai họa, thì đúng là như thế.

Nỗi đau buồn kế vị

Con trai của Maximian là Maxentius và con trai của Constantius là Constantine bị loại khỏi danh sách kế vị như một biệt lệ trầm trọng.

Vào 306, Constantius qua đời tại York, Anh, trong khi trên đường chiến dịch. Binh đoàn của ông không đồng ý cho Severus II lên kế vị và nhanh chóng tuyên bố con trai của Constatius là Constantine làm hoàng đế thay thế. Đó là một quyết định làm thay đổi vận mệnh của thế giới.

Galerius tuy giận dữ, nhưng thận trọng tránh một cuộc nội chiến bùng phát. Vì thế ông đưa ra một thỏa hiệp: Severus II sẽ trở thành Augustus ở miền Tây, như được dự tính, và Constantine sẽ trở thành Caesar của Severus và do đó là người kế vị. Khổ thay, tình hình bắt đầu nóng lên. Con trai của Maximian là Maxentius, vẫn còn bất mãn vì bị loại khỏi cuộc chơi, quyết định xắn tay vào cuộc, và tình hình thực sự bão táp. Dưới đây là thứ tự những sự kiện xảy ra giữa những năm 305 và 308:

  1. Maxentius cầm đầu một vụ đảo chính ở La Mã và mời cha mình Maximian làm hoàng đế lần nữa.
  2. Galerius cử Severus II đi trừng trị bọn lật đổ, nhưng binh lính của ông này bỏ rơi ông, và Severus bị bắt nhốt và sau đó bị giết chết.
  3. Maximian gả con gái của mình Fausta cho Constantine và phong ông lên chức Augustus ở miền Tây.
  4. Galerius cố chiếm La Mã nhưng bắt buộc phải rút lui.
  5. Maximian bỏ con trai mình Maxentius, thôi làm hoàng đế và về sống với Constantine.
  6. Một hội nghị được tổ chức vào 308, trong đó cả Diocletian và Maximian đều có mặt. Tại hội nghị này
  • Maxentius bị cáo buộc là kẻ thù nhân dân, mặc dù y còn là một bài toán nan giải.
  • Constantine giáng chức chỉ còn là Caesar, dù ông từ khước danh hiệu đó.
  • Đồng chí của Galerius là Licinius được phong Augustus miền Tây.
  • Maximian phải giữ nguyên tình trạng thoái vị.

Vì thế vào năm 308, ta có được tình hình như sau:

  • Ở miền Đông, Augustus là Galerius, với Maximinus II Daia là Caesar của ông.
  • Ở miền Tây, Augustus là Licinius, với Constantine là Caesar của ông.
  • Trong lúc đó, không cần biết ai thực sự đang lãnh trọng trách về mặt lý thuyết, Maxentius đang kiểm soát Ý và Bắc Phi.

Cơn đau lúc lâm chúng của Tứ Đầu Chế

Đến đây có lẽ bạn cũng mường tượng được, trong lịch sử La Mã, ngay cả những việc tưởng như ổn định không hề thực sự ổn định. Vì thế bạn có thể mong đợi những sự việc không trơn tru đối với Tứ Đầu Chế khi lớp bụi đã lắng xuống vào 308.

Vào 310, Maximian chia tay với Constantine và tuyên bố mình là hoàng đế lần nữa (đây là lần thứ ba). Lần này Maximian bị tay chân của ông cưỡng chế ông thoái vị và không lâu sau đó người ta thấy ông đã chết, chắc hẳn bị Constantine mưu sát. Các cuộc chiến tiếp diễn hơn 15 năm sau đó quét sạch hệ thống Tứ Đầu Chế của Diocletian mãi mãi và chỉ để lại một nhân vật duy nhất cai quản Đế chế La Mã: Constantine I Đại Đế. Cuộc trị vì của ông đạt những thành tích rực rỡ hơn bất kỳ hoàng đế nào khác trong việc biến đổi thời Chuyên Chế và Đế chế La Mã và tạo ra những thay đổi vang vọng xuống tận bây giờ.

Constantine I, Đại Đế (AD 307-337)

Vào 311, Galerius chết sau một cơn bạo bệnh. Maximinus II kế vị làm Augustus miền Đông. Constantine kết liên minh với Licinius, lúc đó là Augustus miền Tây, rồi hành quân vào Ý đánh bại và giết chết Maxentius tại Trận Cầu Milvian vào ngày 28/10/312. (Nhớ là Maxentius không là Augustus lẫn Caesar của miền nào, nhưng y đã kiểm soát Ý và Bắc Phi.) Thắng lợi này cho thấy Constantine đã kiểm soát hoàn toàn Đế chế La Mã phía tây, tức là đặt ông ở trong thế đối đầu với Maximinus II ở miền Đông. Hơn nữa, Viện nguyên lão tuyên bố Constantine là Augustus Trưởng, tạo ra một thời khắc có ý nghĩa to lớn.

Trận Cầu Milvian, tại La Mã, là một trong những thời khắc quyết định trong lịch sử Âu châu và toàn nền văn minh phương Tây vì Constantine tin rằng thắng lợi của mình được sự hộ trì của Chúa Trời đạo Cơ đốc. Theo truyền thuyết, Constantine tự nhận mình đã nằm mơ thấy Christ trong đêm trước trận đánh. Trong giấc mơ này Christ ra lệnh cho ông vẽ biểu tượng Chi-Rho trên khiên của binh lính. Ông còn nghe lời Christ văng vẳng bên tai in hoc signo vinces, ‘bằng dấu hiệu này người sẽ chinh phục’. Biểu tượng Chi-Rho là ghép mẫu tự Chi (χ) và Rho (ρ) trong tiếng Hy Lạp, là hai mẫu tự đầu tiên của từ Christ trong tiếng Hy lạp Χριστός) (hình bên).

2

Kiểm soát miền Tây

Sau thắng lợi tại Cầu Milvian, việc đầu tiên của Constantine là trục xuất Maximinus II Daia, đang là Augustus miền Đông. Động lực của Constantine hoàn toàn đơn giản: Ông không có ý định chia sẻ thế giới La Mã với bất kỳ ai, và ông quyết tâm bảo vệ quyền lợi của người Cơ đốc giáo.

Maximinus đã quay lại ngược đãi người theo đạo Cơ đốc và thậm chí tạo ra giáo hội ngoại đạo nhằm cạnh tranh với giáo hội Cơ đốc. Là Augustus Trưởng, Constantine ra lệnh ông dừng lại, nhưng Maximinus không tuân. Thay vào đó, Maximinus cất quân toan tính đánh bại Licinius, người được thưởng quyền cai trị miền Đông vì đã công nhận Constantine ở miền Tây. Rủi cho Maximinus, Licinius đánh bại ông tại Thrace. Maximinus ngụy trang như một tên nô lệ và tẩu thoát; ông cũng cố gắng hủy bỏ lệnh ngược đãi người Cơ đốc giáo bằng cách ban hành một sắc lệnh khoan dung. Nhưng đã quá trễ. Trước khi sự thay đổi của ông có tác dụng, ông đã qua đời vào mùa hè 313.

Cái chết của Maximinus đã nghiễm nhiên biến Constantine thành chúa tể không tranh cãi của miền Tây và Licinius chúa tể không tranh cãi của miền Đông.

Hai người gặp nhau tại Milan vào 313. Licinius cưới em gái một cha khác mẹ của Constantine để gắn kết tình thân. Để hợp pháp hóa quyền trị vì, Constantine tự nhận mình là hậu duệ của Claudius II, và Licinius cho mình là hậu duệ của Philip I. Họ cũng ban hành Sắc Lệnh Milan.

Ban hành Sắc Lệnh Milan, 313

Trên giường bệnh vào năm 311, Galerius cùng với bạn bè trong Tứ Đầu Chế soạn thảo một sắc lệnh kết thúc sự ngược đãi đạo Cơ đốc. Những bức hại chỉ làm các tín đồ đạo Cơ đốc thêm ngoan cường và gây chia rẻ trong thế giới La Mã. Sắc lệnh yêu cầu các tín đồ đạo Cơ đốc cầu nguyện Chúa Trời của mình ban phước lành cho nhà nước La Mã.

Thông tri cho phép người Cơ đốc giáo tự do giữ đạo, như Galerius đã làm vào năm 311 là một việc. Còn biến nhà nước La Mã thành nhà nước Cơ đốc giáo là một việc khác. Việc bao dung dành cho đạo Cơ đốc được làm mới lại bằng Sắc Lệnh Milan vào năm 313, với nhiều thay đổi ý nghĩa hơn.

Sắc Lệnh Milan tuyên bố mọi tôn giáo đều được bao dung và bất cứ thứ gì của người Cơ đốc giáo đã bị nhà nước tịch biên sẽ được hoàn trả vô điều kiện. Nhưng Sắc Lệnh không nói rằng đạo Cơ đốc là tôn giáo hợp pháp duy nhất. Nhưng tiến trình mà cuối cùng sẽ dẫn đến việc ngăn cấm ngoại đạo đang bắt đầu.

Đông đối đầu với Tây: Đánh Licinius

Cuộc tranh giành quyền lực dần dần lộ diện giữa Constantine và Licinius, dù họ có mối ràng buộc gia đình cũng như chính trị. Theo cách nào đó, nó làm ta nhớ lại cách thức Tam Đầu Chế Thứ Nhất và Thứ Hai của nền Cộng Hòa trước đây tan rã khoảng 400 trăm trước cho dù các thành viên của họ có mối ràng buộc chính trị và cá nhân. Hình như việc chia sẻ thế giới La Mã là điều gì đó ít nhà trị vì có thể tiêu hóa được.

Cuộc tranh giành quyền lực cuối cùng bùng phát thành chiến tranh công khai. Constantine tự tin có Chúa Trời về phe với mình.

Rối ren đang âm ỉ

Tôn giáo từ xưa thường được sử dụng để chia rẽ con người, và đó là những gì đang xảy ra bây giờ. Constantine cũng là nhà trị an lanh lợi. Ông sử dụng đạo Cơ đốc như một phương tiện để thiết lập nền tảng quyền lực mới. Ông có thể chỉ định những con người mới, những người có thân thế mới, vào chính quyền và nắm giữ những chức vụ cao trong quân đội, trong khi những gia đình ngoại giáo cũ bị đẩy ra ngoài. Constantine ban cho nhà thờ và các thành viên trong giáo hội mọi thứ đặc quyền, như miễn thuế, ưu tiên cho việc làm, vân vân.

Licinius tỏ ra ngờ vực khi Constantine phong cho người em vợ, Bassianus, chức Caesar của ông coi sóc Ý và những tỉnh vùng sông Danube. Licinius khuyến khích Bassianus nổi dậy vào 314, nhưng âm mưu bị bại lộ và dẫn đến chiến tranh công khai giữa Licinius và Constantine vào năm 316.

Vào 316, Consatntine và Licinius thỏa thuận đình chiến. Một phần của thỏa thuận là việc sắp xếp việc kế vị. Vào 317, hai con trai của Constantine, Crisous và Constantine II, được chọn làm Caesar của ông, còn con trai của Licinius, cũng tên là Licinius, được chọn làm Caesar của y. Sự kiện này giúp đình hoãn cuộc chiến trong một thời gian, nhưng Licinius Cha vẫn chưa thỏa mãn. Y tin rằng Constantine đang sử dụng đạo Cơ đốc để phá hoại y bằng cách gài những tín đồ Cơ đốc giáo trung thành với Constantine chứ không trung thành với y vào những chức vụ cao ở miền Đông. Để đáp trả, Licinius bắt đầu kềm kẹp Giáo hội ở miền Đông, và y loại bỏ những người Cơ đốc ra khỏi những chức vụ cao cấp.

Licinius cũng nghĩ rằng Constantine thích các con trai mình vào ban chấp chính hơn. Mặc dù trong thời kỳ Chuyên Chế, làm chấp chính không làm gì nhiều hơn là tham dự những nghi thức công cộng, nhưng đó là một cách tuyệt vời để thăng tiến một người nào đó. Licinius tin rằng Constantine đang dành cho các con mình cách đối xử ưu đãi để bảo đảm họ sẽ là những hoàng đế thành công, gây thiệt thòi cho con trai của Licinius.

Ngày tàn của Licinius

Vào năm 322, Constantine đi vào miền Đông, lấy cớ đưa tiễn một cuộc xâm chiếm khác của người Gô tích. Licinius coi đây là một sự xâm phạm trực tiếp vào quyền kiểm soát miền Đông của mình, thế là chiến tranh bùng phát. Kết quả là Licinius trải qua một loạt thảm họa: Vào tháng 6 năm 324, y bị đánh bại tại Trận Hadrianopolis; không lâu sau đó 350 chiến thuyền trong hạm đội của y bị 200 chiến thuyền do con trưởng của Constantine là Crispus chỉ huy, đánh bại tại Trận Hellespont; và rồi trong tháng chín Constantine đánh bại Licinius hoàn toàn tại Trận Chrysopolis. Licinius trốn chạy nhưng rồi bị bắt ngay. Y sau đó bị hành hình sau khi bị kết tội âm mưu quay lại; con trai y cũng bị hành hình tiếp theo.

Đế chế theo Đạo Cơ đốc

Với Licinius giờ đã không còn ngáng đường, Constantine nghiễm nhiên nắm toàn quyền cai trị Đế chế. Xét thấy rằng đạo Cơ đốc là công cụ tốt nhất để hợp nhất Đế chế, Constantine hăng hái bắt đầu Cơ đốc hóa Đế chế La Mã, một tiến trình đã bắt đầu với các sắc lệnh 311 và 313.

Triều đình mới

Constantine tự cho mình là ‘Đồng Đẳng với Thánh Tông Đồ’ và tự xưng mình là đại diện của Chúa Trời trên thế gian. Ông duy trì tính Chuyên Chế của Diocletian. Nhà nước chuyên chế càng ngày càng trở thành một sự thật của cuộc sống. Viện nguyên lão hoàn toàn không thích hợp, và sự phân biệt có từ xưa giữa nghị sĩ và kỵ sĩ bị bãi bỏ. Constantine lập một hội đồng, sacrum consistorium (bộ phận thiêng liêng của những người đứng bên nhau’), do ông chủ trì. Hội đồng lo về những nghi thức long trọng, những tước hiệu danh dự, với mọi việc dán nhãn hiệu sacrum (‘thiêng liêng’). Có một triều đình lớn gồm những thành viên là người của Constantine

  • bộ phận nội cung, trong đó có hoạn quan.
  • ngự lâm quân.
  • thị giả.
  • thư ký
  • các bộ trưởng giữ các trách vụ sau: đất đai nhà vua, cung điện, việc làm, binh sĩ, và tài chính với các phòng ban của họ.

Chào mừng đạo Cơ đốc trong kiến trúc

Những hình thức kiến trúc mới được phát triển để chào mừng đạo Cơ đốc, như Nhà Thờ Thánh Thần của Constantine trong thủ đô mới Constantinople của ông, có dạng một thánh giá. Thiết kế pháp đình của chính quyền ngoại giáo cũ, gồm gian giữa và các gian cánh, được tu sửa theo thiết kế nhà thờ và tạo nên cơ bản cho tất cả nhà thờ trung cổ to lớn. Các thiết kế mới cũng xuất hiện ở La Mã như Giáo đường Thánh Peter đầu tiên (hiện giờ nằm bên dưới Giáo đường Thánh Peter hiện đại).

Những pho tượng lớn của hoàng đế được điêu khắc. Các mảnh vỡ của hai pho tượng ở La Mã còn sống sót (một đồng, một đá hoa cương), cũng như một pho tượng tại York ở miền bắc xứ Anh, nơi Constantine đã được tuyên bố là hoàng đế. Hoàn toàn không giống các pho tượng cổ điển lớn bằng người thật cũ, các hình ảnh hoàng đế mới cho thấy một gương mặt không có cá tính với đôi mắt ngước lên trời.

3

Constantine Đại Đế

Các tín đồ Cơ đốc chặn họng nhau

Các tín đồ Cơ đốc chắc phải vui mừng trước tự do tín ngưỡng mới được ban bố. Chắc chắn là như vậy, nhưng thay vì tự động hợp nhất Đế chế như Constantine đã kỳ vọng, các tín đồ Cơ đốc cho thấy mình cũng dễ hiềm khích nhau như bất kỳ nhóm người nào khác. Lúc đầu, một số tín đồ Cơ đốc cố chấp với người ngoại đạo như trước đây người ngoại đạo đã từng cố chấp với họ. Sự cố chấp này tác động đến một tiến trình tiếp diễn lâu dài nhằm thúc đẩy ra đời những đạo luật cấm đoán việc tôn thờ các thần linh ngoại đạo và dẹp bỏ các đền thờ của họ. Đối với nhiều người La Mã, Cơ đốc giáo chỉ là một tôn giáo mới góp thêm vào các tôn giáo sẵn có. Một số tín đồ Cơ đốc thuần thành tẩy chai các tôn giáo khác. Nhưng nhiều người sẵn sàng tôn thờ Christ cùng với các vị thần ngoại đạo. Thậm chí Constantine tiếp tục cho lưu hành những đồng tiền có hình Thần Mặt Trời Vô Địch và Vị Thần của Dân Tộc La Mã cũng như những biểu tượng và sự hiện thân ngoại đạo truyền thống La Mã.

Tuy nhiên, nếu bạn nhìn lại, đạo Cơ đốc tại thời kỳ này không phải là một tôn giáo đồng nhất, đơn lẻ. Các tín đồ Cơ đốc tách nhau ra thành những nhóm ly khai:

  • Thiên chúa giáo (Chính thống): Những tín đồ Cơ đốc này tin rằng Christ là Chúa tự thân cùng với Chúa Cha và họ vừa tách rời vừa là nhất thể. Đây là lời răn dạy do các lãnh đạo giáo hội Cơ đốc La Mã xiễn dương __ vì thế những gì họ rao giảng là chính thống giáo.
  • Phái Arian: Một giáo sĩ Bắc Phi có tên Arius tuyên bố trong những năm 300 là Christ tự thân không phải là Chúa đúng nghĩa, mà chỉ là sự sáng tạo Chúa Cha như một công cụ tạo ra thế giới. Ngay lập tức Arius có người tin theo, trong đó có cả các giám mục. Như bạn có thể tưởng tượng, việc này làm các tín hữu chính thống căm giận đến cỡ nào.

Constantine triệu tập một hội đồng tại Nicaea vào 325 để giải quyết vấn đề. Các tín hữu Arian bị gạt ra, nhưng chẳng bao lâu, chính Constantine bắt đầu nghĩ rằng các tín hữu Arian có thể đúng và bắt đầu phục vị họ. Sự tranh cãi quyết liệt tiếp diễn nhiều thập niên sau khi Constantine băng hà vào 337 trong khi nhiều hội đồng khác nhau nỗ lực vắt óc tìm một hình thức ngôn từ làm hài lòng mọi người và giữ cho Giáo hội được thống nhất.

  • Phái Donatist: Một số thành viên của giáo hội Phi châu vào năm 311 phản đối việc Felix ở Aptunga đứng ra tấn phong giám mục thành Carthage cho giáo sĩ tên Caecilian bởi Felix là người đã chối bỏ kinh thánh trong thời cấm đạo của Diocletian. Theo quan điểm của họ, bất kỳ ai tỏ ra yếu hèn trong thời cấm đạo đều nên bị trừng trị thẳng tay. Vì thế họ chỉ định một đối thủ, sau đó một người khác tên Donatus kế thừa, từ đó có tên của phong trào ly khai này. Donatus là người có tiếng tăm do trong thời cấm đạo ông đã từng vững vàng vượt qua nhiều phen bị tra tấn, ngược đãi. Một ủy ban lập ra năm 313, công đồng giáo mục tổ chức ở Arles năm 314, và Constantine năm 314 đều chống lại phái Donatist, khiến cho những người ủng hộ họ nổi loạn phản đối. Constantine cố dẹp yên họ nhưng phải bỏ dỡ vào năm 321. Phong trào Donatist ngạc nhiên thay còn hoạt động cho đến 400-500 năm sau trước khi cuối cùng tắt lịm.

Chuyển nhà: Thủ đô dời đến địa điểm mới

Bộ mặt của trật tự mới của Constantine là thủ đô mới của ông. Ông chọn Byzantium, một thành phố Hy Lạp cổ án ngữ eo biển Bosphorus giữa châu Âu và châu Á. Ông chọn địa điểm này cho thủ đô của mình vì những lý do sau đây:

  • Nó có hải cảng.
  • Nó có thể phòng ngự bằng bộ binh và thủy binh.
  • Nó gần các tỉnh lỵ phía đông giàu có và có tiềm năng sản xuất.
  • Nó gần các vùng biên giới quan trọng nhất (như miền Đông và vùng sông Rhine-Danube).

La Mã vẫn còn là thành phố đi đầu trên giấy tờ, nhưng Byzantium là thành phố của tương lai. Các công trình công cộng được dựng lên như tòa nhà nghị sĩ, trường đua Hippodrome, quảng trường, và thư viện. Constantine cho quân đi cướp bóc báu vật và các công trình nghệ thuật của các thành phố cổ khắp nơi về trưng bày tại thành phố mới để nó có được di sản ‘ăn liền’. Vào 330, thành phố hoạt động chính thức dưới tên Nova Roma, ‘Tân La Mã‘, nhưng rồi mau chóng được đổi tên là Constantinopolis (Constantinople; ngày nay gọi là Istanbul).

Đọc thêm: Di sản ‘ăn liền’

Constantinople được bày biện với tất cả đồ đạc lộng lẫy được chôm chĩa từ các nơi khác đem về. Trường đua Hippodrome của Constantine ở Constantinople được trang trí bằng bốn con ngựa đồng đúc cách đó 700 năm ở Hy Lạp. Khoảng 900 năm sau vào năm 1204, bốn con ngựa này bị các ‘hiệp sĩ’ trong Thập tự chinh lần thứ tư cướp lấy và trưng bày trong nhà thờ Thánh Mark ở Venise (hình dưới) cho đến năm 1980, không kể sự kiện Napoleon lấy cắp trong một thời gian ngắn, khi đó chúng được chuyển đến viện bảo tàng (chỉ còn lại bản sao đứng tại chỗ). Những báu vật đánh cắp khác bao gồm Trụ Đồng Rắn Ba Đầu Plataea cao 8 mét do người Hy lạp dựng vào thế kỷ thứ năm BC để tưởng niệm chiến thắng quân Ba Tư trong Trận Plataea vào năm 479. Nó được lấy từ Đền thờ Apollo ở Delphi rồi mang về dựng tại trường đua Hippodrome.

4

Quản lí tiền tệ

Không như Diocletian, Constantine quản lí tiền tệ tương đối ổn định. Ông đưa ra một đồng tiền vàng có tên solidus nhỏ hơn và nhẹ hơn đồng aureus, nhưng rất thành công và trở thành đồng tiền cơ bản trong nhiều thế kỷ liền.

Để giải quyết chi phí tăng cao của một quân đội mở rộng và ban bệ điều hành khổng lồ của mình, Constantine thêm nhiều sắc thuế mới và tịch biên các kho bạc của đền thờ. Các điền chủ, thành phần đóng thuế sống còn cho nhà nước, bị ngăn cấm không cho làm những nghề nghiệp được miễn trừ thuế như nghị sĩ, công bộc, và giới tăng lữ Cơ đốc. Điều đó có nghĩa các điền chủ phải bắt buộc bám lấy đất đai canh tác, cũng như hàng triệu dân thường đang hành nghề buôn bán hoặc làm thầy thợ. Các thợ làm bánh và đồ tể, chẳng hạn, có bổn phận phải duy trì nghề nghiệp, và con cái họ cũng vậy. Các tá điền cũng phải bám lấy đất đai, thậm chí bị xiềng xích tại mảnh ruộng để ngăn họ bỏ nghề. Mục đích là để duy trì bánh xe kinh tế tiếp tục quay và ngăn cản băng nhóm tội phạm không đất và vô nghề lớn mạnh, nhưng việc làm đó phải trả một giá khủng khiếp. Thực chất đó là dấu chấm hết của tự do cá nhân.

Hoang tưởng về việc kế vị

Constantine quyết tâm ổn định tương lai, nhưng vào năm 326, ông bổng tưởng tượng là bà vợ và con trai mình (với bà vợ đầu tiên Minervina) đang âm mưu chống lại ông. Ông liền hành hình cả hai và chỉ định ba con trai khác __ Constantine II, Constantius II, và Constans __ cùng hai đứa cháu, Delmatius và Hannibalianus, làm năm người kế vị tiềm năng. Constantine hình như có ảo tưởng là họ sẽ trị vì một cách hòa thuận với nhau sau khi mình qua đời.

Constantine cuối cùng được rửa tội như một tín đồ Cơ đốc trước phút lâm chung, sau thời gian lâm bệnh trong khi trù tính cuộc chiến với quân Ba Tư. (Rửa tội lúc lâm chung rất thông dụng vào thời đó vì điều đó có nghĩa bạn có thể qua đời dưới hình thức thuần khiết nhất có thể. Mục đích là không có thời giờ để bạn phạm tội lần nữa giữa hai thời điểm rửa tội và qua đời và có thêm cơ hội lên Thiên đường.)

Không nghi ngờ gì nữa thời trị vì của Constantine là một thời thực sự thịnh trị. Ông đã biến chế độ Chuyên Chế của Diocletian thành một hệ thống khả thi. Tình hình các vùng biên giới tốt đẹp hơn, và uy danh của Đế chế được phục hồi trong mắt của phần còn lại của thế giới, cho dù phần đông dân chúng trong thế giới La Mã bị trói buộc vào ngôi nhà họ và việc làm của họ và chỉ có thể tưởng tượng bao nhiêu tự do mà một công dân La Mã trước đây từng có.

Gia đình thương nhau của Constantine __ không!

Constantine dự tính ba con trai còn sống của mình, Constantine II, Constantius II, và Constans, và hai đứa cháu Delmatius và Hannibalianus, sẽ kế vị ông. Tất cả đều được phong Caesar trừ Hannibalianus, được phong làm Vua có quyền lực với những tỉnh lỵ Armenia, Pontus, và Cappadocia. Tất cả bọn họ đều kế vị Constantine, nhưng không theo cách mà ông hi vọng. Khổ thay, Constantine đã phớt lờ chương trình chọn người kế vị bằng tài năng của Diocletian thay vì bằng lối cha truyền con nối.

Đánh nhau vì mọi thứ

Vào 337, Constantine II khoảng 21 tuổi và đã đánh một trận thắng lợi chống người Goth. Constantius II khoảng 20 tuổi, và Constans khoảng 17. Ta không biết gì nhiều về các đứa cháu Delmatius và Hannibalianus, và việc đó không thành vấn đề vì việc đầu tiên xảy ra là cả hai đều bị mưu sát, chắc hẳn theo lệnh của Constantius II. Ông và anh em mình trở thành ba vị Augustus, và Đế chế được họ chia phần, khiến nhớ lại thời Tam Đầu Chế lần hai (xem Chương 15).

  • Constantine II được Gaul, Tây Ban Nha, và Anh.
  • Constantius II được các tỉnh miền Đông.
  • Constans được Ý và Phi châu.

Với tiền đặt cược quá cao, không có gì ngạc nhiên khi vụ sắp xếp đó không kéo dài lâu. Việc tranh luận chẳng mấy chốc bùng phát, và tiền tố được tăng cao bằng tôn giáo. Vấn đề tranh cãi về phái Arian vẫn còn âm ỉ. Giám mục Chính Thống Giáo ở Alexandria, Athanasius, đã bị lưu đày khi Constantine I bắt đầu ưu ái với phái Arian. Athanasius tìm chốn trú thân tại Trier, giờ là thủ đô của Constantine II. Athanasius được phép trở về Alexandria trong lãnh thổ của Constantius II. Constantius II nổi giận vì ông cũng ưu ái phái Arian và thế là Athanasius bắt buộc phải chạy thoát đến La Mã vào 339.

Cái chết của Constantine II và Constans

Trong lúc này, các anh em hoàng gia họp lại vào năm 338 để giải quyết những khác biệt của họ. Constan được hưởng nhiều đất đai hơn: các vùng Danube, Thrace, Macedonia, Achaea (Hy Lạp) và Constantinople.

Constantine II cảm thấy khó bằng lòng, nhất là vì ông cho mình là hoàng đế anh cả, và bắt đầu tranh cãi với Constans. Vào 340, ông dẫn một binh đoàn vượt dãy núi Alps để xâm chiếm Ý nhưng bị phục kích gần Aquileia và bị tử trận. Constans thừa dịp lấy hết phần lãnh thổ của anh mình. Chỉ trong vòng ba năm sau khi Constantine I qua đời, năm người kế vị giờ chỉ còn hai.

Constans là một người Thiên chúa chính thống thuần thành và đã được rửa tội năm 337. Ông ủng hộ nhiệt thành Giáo hội miền Tây và cùng phe với Athanasius tại Công đồng Serdica vào năm 342. Đế chế bắt đầu tách làm hai giữa miền Tây chính thống và miền Đông theo Arian. Chiến tranh sắp sửa bùng phát vào năm 346, nhưng Constans và Constantius II vượt qua được những khác biệt của họ.

Constans kéo dài đến năm 350. Dù ông là vị hoàng đế được yêu mến vì ủng hộ Giáo hội, nhưng ông cũng nổi tiếng hư đốn và nhận hối lộ khi cất nhắc nhân sự, khiến ông dần đánh mất sự ủng hộ của quân đội một cách tai hại. Năm 350, ông bị ám sát trong một vụ đảo chính do một quân nhân có tên Magnentius cầm đầu.

Constantius II (AD 337-361)

Sau cái chết của người em Constans, Constantius II giờ đã được toại nguyện được trị vì toàn Đế chế La Mã một mình, nhưng ông cũng bẽ mặt vì tên nổi loạn Magnentius đang nắm quyền tại một đế chế tách ra gồm Tây Ban nha, Gaul, Anh, và ngay cả châu Phi. Magnentius cũng đã giết chết một người cháu của Constantine I có tên Nepotian khi người này cố chiếm quyền ở La Mã khi Constans bị giết.

Vụ nổi dậy của Magnentius

Magnentius, một người ngoại đạo, đóng vai một người Cơ đốc chính thống trên đồng tiền của y và thậm chí có in biểu tượng nổi Chi-Rho trên mặt kia của đồng tiền. Y sử dụng sự ly khai trong Giáo hội để tranh thủ sự ủng hộ của miền Tây theo Thiên chúa chống lại miền Đông theo Arian.

Chiến tranh không thể tránh khỏi. Constantius II phong em họ Gallus của mình là Caesar và cử y đặc trách miền Đông để ông có thể xuất quân đánh dẹp Magnentius. Vào 351, Magnentius và Constantius gặp nhau tại Trận Mursa Major đẫm máu ở Pannonia. Đó là một thế giằng co tổn thất nhiều sinh mạng. Kỵ binh của Constantius đánh bại các quân đoàn của Magnentius, nhưng Constantius mất 30,000 quân còn Magnentius 24,000 quân. Một loạt các trận giao tranh tiếp diễn, dần dần đẩy lùi Magnentius trở lại Gaul. Vào 353, Magnentius thất trận lần nữa và đành phải tự tử.

Constantius giáng xuống những người ủng hộ Magnentius sự tàn nhẫn tột cùng chuyên chế. Bất kỳ ai bị nghi ngờ là ủng hộ vụ nổi loạn đều bị hành hình hoặc ít nhất là ném vào tù, tài sản bị tịch thu. Sử gia Ammianus Marcellinus cho rằng Constantius còn bị hoang tưởng về sự phản bội nhiều hơn bất kỳ hoàng đế nào trước đây, ngay cả Domitian (Chương 17) hoặc Commodus (Chương 18). Một số âm mưu là có thật, nhưng nhiều trường hợp chỉ là đáng nghi, Constantius cũng thoải mái cho sử dụng nhục hình khảo tra để họ thú tội.

Trong thời gian ở Mursa Major, Constantius đã gặp giám mục khu vực phái Arian, có tên Valens. Valens có ảnh hưởng lớn với Constantius, khiến ông càng tận lực với chính nghĩa Arian hơn. Athanasius, giám mục Alexandria thuộc Thiên chúa chính thống, lại bị lưu đày lần nữa.

Gallus được triệu tập sau khi có những báo cáo cho thấy y hành động như một tên chuyên quyền, nhưng chưa đến trình diện Constantius thì y đã bị xét xử và hành hình. Năm 345 y được em trai là Julian thay thế, trở thành người kế vị được chỉ định của Constantius.

Constantius II trị vì

Là một nhà trị an, Constantius tương đối có năng lực. Ông tưởng mình là nhà trí thức nhưng thật ra ông không có khả năng nào về mặt đó, ngược lại trong thể thao, kỹ năng quân sự, và săn bắn, ông rất là thành thạo. Ông chỉ đề bạt những quân nhân có tài cán, nhưng ít phong những chức vụ cao nhất trừ khi hoàn toàn xứng đáng. Ngược lại, ông khá nhanh nhẹn trong việc xây dựng những khải hoàn môn để tưởng niệm chiến tích quân sự của mình. Bởi không quyết đoán, nên ông thường dễ nghe lời các hoạn quan, các bà vợ, và những viên chức khác. Thuế đã cao, nhưng ông không làm gì để ngăn cản các viên chức thu thuế thôi moi tiền dân chúng, điều đó khiến ông ít được yêu mến.

Giải quyết khủng hoảng Arian và Thiên chúa

Năm 359, Constantius tổ chức một hội nghị hai bên để giải quyết sự lủng củng giữa phái Arian với phái chính thống sao cho Cơ đốc giáo có thể hoạt động như một quốc giáo của Đế chế La Mã. Giám mục Arian là Valens đề nghị một cách thể hiện ngôn từ nhằm che đậy trọng tâm của sự bất đồng (vấn đề Christ có phải là Chúa hay chỉ giống Chúa, đã được bàn trong mục ‘Các tín đồ Cơ đốc chặn họng nhau’) và có vẻ mọi người mãn nguyện một thời gian. Những kẻ cực đoan chính thống do Athanasius và Basil, Giám mục ở Ancyra, cầm đầu bác bỏ hoàn toàn. Nhưng chẳng bao lâu, phái Arian bị yếu đi vì chia rẽ thành ba nhóm, mỗi nhóm có một quan niệm riêng về sự khác biệt chính xác giữa Christ và Chúa. Cuối cùng, một hội nghị được tổ chức tại Constantinople vào năm 381 phê chuẩn các quyết định đã được tuyên tại Nicaea năm 325. Phái Arian được xem là phạm pháp và biến mất khỏi Đế chế, mặc dù nó vẫn còn phổ biến thêm một thế kỷ nữa trong các bộ tộc Đức.

Mang Ngoại Giáo Trở Lại:

Julian II, ‘Kẻ Bội Giáo’ (AD 360-363)

Vào cuối thời trị vì của mình. Constantius II giải quyết không ngừng những vụ việc ở vùng biên giới. Ông chinh chiến trên vùng Danube và rồi phải đi về đông thêm lần nữa để đánh đuổi quân Ba Tư. Constantius cử em họ mình Julian dẹp tan bọn Đức vượt sông Rhine vào cướp phá Cologne. Cha của Julian là một Constantius khác, em cùng cha khác mẹ của Constantine I, người bị ám sát vào năm 337, và ngay sau đó một số thân nhân khác cũng bị tàn sát.

Julian sinh năm 332 và được một hoạn quan tên Mardonius giáo dục. Y dạy ông về những thần linh La Mã cổ xưa và văn học cổ điển. Kiến thức đó có ảnh hưởng lâu dài đối với Julian. Năm 355 Julian được anh họ mình Constantius II phong làm Caesar một phần vì ông là một số ít thân nhân còn sót lại.

Julian trải một ít năm sau đó chiến chinh trên vùng biên giới sông Rhine và gặt hái được thắng lợi. Ông giảm thuế cho dân xứ Gaul và được binh lính yêu mến. Tất nhiên, việc này khiến Constantius II ganh tỵ. Ông ra lệnh cho một số binh đoàn của Julian trở về, nhưng họ từ khước và nhanh chóng tuyên bố Julian là Augustus. Các thương thảo tiến hành ngay sau đó, nhưng không đi đến đâu. Constantius lên đường thanh toán với Julia, nhưng trên đường thì mất sau một cơn sốt vào năm 361.

Quay ngược thời gian

Julian giờ đã có thế giới La Mã về mình, và lập tức ông quay ngược thời gian. Một số tay chân của Constantius bị hành hình, nhưng sự thay đổi lớn lao là các bộ luật chống đối ngoại giáo bị bãi bỏ. Ông cung cấp tiền cho những đền thờ ngoại giáo và khuyến khích họ thành lập cơ cấu tổ chức theo kiểu đã khiến Cơ đốc giáo quá vững mạnh. Ông trừng phạt các tín đồ Cơ đốc bằng cách thu hồi các đặc quyền của họ, nhất là các đặc quyền về tài chính như miễn thuế, và thậm chí cấm họ dạy học.

Julian không phải là người duy nhất yêu quí tôn giáo truyền thống. Một số ít người xem các nhóm ly khai như phái Arian, Donatist, và sự khe khắt của người Cơ đốc đối với người ngoại đạo là bằng chứng bằng thép cho thấy giáo hội Cơ đốc là một cách tân nguy hiểm và không ổn định. Julian đã chứng kiến các em họ Cơ đốc của mình trong dòng họ Constantine đã phạm đủ loại tội lỗi và thấy vô lý ở việc dù một tín đồ Cơ đốc phạm tội nhiều thế nào, y chỉ việc xin tội là được tha thứ. Như nhiều nhà truyền thống khác, Julian lớn lên trong niềm tin rằng lòng khoan dung cổ xưa, các vị thần cổ xưa, và những điều tín ngưỡng xưa cũ là phương cách giữ Đế chế La Mã được hợp nhất. Ông để râu, tỏ ra quan tâm đến người Hy Lạp, chủ nghĩa thần bí, và ma thuật. Nhưng ông cũng quá sốt sắng trong việc hiến tế đến nỗi nếu ông sống lâu hơn nguồn cung cấp gia súc có thể thiếu hụt.

Julian lên ngôi

Khi không công kích đạo Cơ đốc, Julian là một hoàng đế tử tế, chịu khó kềm chế lạm phát và tinh giảm bộ máy hành chính cồng kềnh và những kẻ ăn bám. Ông bị sốc bất ngờ khi một tên thợ cạo của triều đình ăn mặc quá diêm dúa đến cắt tóc cho ông. Julian khám phá ra rằng tên thợ cạo được nhận những trợ cấp lương thực khác nhau và những bổng lộc khác của công việc, ông bèn lập tức đuổi tất cả những tùy tùng giống như thế ra khỏi cung điện. Ở miền Đông, ông bỏ tiền ra tái thiết thành phố Nicomedia bị tàn phá trong một vụ động đất.

Tham vọng lớn cuối cùng của Julian là đánh bại quân Ba Tư. Ông đến Antioch vào 362 để chuẩn bị cuộc chiến. Vào tháng 3 năm 363, ông lên đường với 65,000 quân và chẳng bao lâu đến thủ đô Ba Tư là Ctesiphon. Ông quyết định lui quân chờ lực lượng hậu bị. Quân Ba Tư nhân cơ hội quấy nhiễu quân Julian, và trong một đợt tấn công, ông bị thương và chết, chắc hẳn do nhiễm trùng.

Trước khi qua đời, ông thều thào, ‘Vicisti Galilaee. ‘Ngươi đã chinh phục, Ôi người Galilea [Christ]’. Lịch sử sẽ nhớ Julian như một người quay lưng lại với Cơ đốc giáo, và vì thế ông thường được biết dưới biệt hiệu, ‘Kẻ Bội Giáo’. Một số xem ông như một tội phạm khi quay về với tôn giáo truyền thống trong khi người khác coi ông là một con người có tri thức và lý lẽ.

Đọc thêm: Julian người trước tác

Julian trước tác nhiều hơn bất kỳ vị hoàng đế La Mã nào khác. Một số tác phẩm của ông còn lưu lại, cho thấy ông là một tác giả tài năng viết bằng tiếng Hy lạp. Ông viết thư từ và diễn văn, cũng như các bài phê phán đạo Cơ đốc như Chống Lại Bọn Galilea, và một thánh ca ca tụng Thần Mặt Trời. Ông cũng soạn một loạt tiểu sử châm biếm của các hoàng đế thuở trước. Ông thành lập một thư viện đồ sộ ở Constinople chứa đến 120,000 quyển sách.

5

Chân dung của Hoàng đế Julian trên mặt đồng tiền đúc tại Antioch năm 360-363

Chương 21

Bọn Man Rợ Đang Đến! Đoạn Kết của La Mã

Trong Chương Này

  • Bọn man rợ bắt đầu đập cửa nhà như thế nào
  • Tại sao La Mã thất thủ
  • Chuyện gì xảy đến miền Tây Âu sau khi La Mã thất thủ
  • Bằng cách nào Byzantine giữ cho ngọn lửa được sống

Chương này nói về màn kịch cuối cùng trong bi kịch lớn về lịch sử của một thành phố có tên La Mã. Khi Julian II mất vào năm 363, La Mã lúc đó, nếu ta chấp nhận niên đại truyền thống của năm thành lập của nó là 753 BC, đã 1,116 tuổi. Thế giới La Mã vươn dài từ Ai cập và Trung Đông đến Anh đảo và đỉnh xa nhất của Tây Ban Nha. Nó đã kinh qua những biến đổi lớn lao, nhưng nó về cơ bản vẫn còn là ‘La Mã’, và thành phố La Mã là trái tim tinh thần của nó.

Nhưng trong hơn một thế kỷ, ít có hoàng đế nào làm gì nhiều hơn là băng ngang qua La Mã. Họ dành hầu hết thời gian cho chiến dịch hoặc đóng quân áp sát biên giới. Họ đã chứng tỏ là các hoàng đế có thể được tạo ra hoặc chết tại những nơi khác La Mã, vì quyền lực duy nhất đáng kể là sự trung thành của binh lính dành cho người cầm đầu họ đến bất cứ nơi đâu.

Constantine I (307-337) đã tạo nên sự thay đổi có tính biểu tượng nhất kéo dài hằng thế kỷ. Ông nhận ra rằng Constantinople là chìa khóa để giữ vững Đế chế La Mã vì La Mã giờ đây chỉ là ý niệm, một tâm trạng, hơn là một thực thể. Đóng góp của Constantine là lớn lao, cho dù ông không thể làm gì trước áp lực dần leo thang của bọn man rợ trên miền biên giới. Tệ hơn nữa, kế hoạch chia Đế chế cho các con trai mình dẫn đến nội chiến và dấy loạn chỉ làm yếu đi thế giới La Mã nhiều hơn nữa. Trong thế kỷ thứ tư, Đế chế La Mã miền Tây bắt đầu sụp đổ dưới sức tấn kích dữ dội của bọn man rợ, và cuối cùng, chính La Mã rồi cũng tiêu vong.

Quân Man Rợ Tràn Xuống

Người La Mã gọi ‘man rợ’ bất kỳ ai không giống như họ __ đó là, văn minh, sống trong thành phố, có sở thích văn học và kiến trúc, văn chương, và sinh hoạt có văn hóa. Người man rợ kể cả những dân cư của một số tỉnh lỵ xa xôi hơn, như dân Anh bản địa, nhưng hầu hết có nghĩa là các bộ tộc ở bên kia biên giới sông Rhine-Danube. Tất nhiên, người La Mã có thành kiến. Một số người man rợ có tài năng và có thể tạo ra những sản phẩm cao cấp, nhưng dù thế nào người La Mã cứ nghĩ về họ như thế.

Người La Mã có mối quan hệ hoàn toàn có tính nước đôi với người man rợ. Trong nhiều thế kỷ, họ cố gắng giáo hóa những bộ tộc dọc đường biên giới và đã thuê các chiến binh bộ tộc để chiến đấu trong quân đội La Mã với hi vọng họ sẽ trở thành lực lượng hiệu quả chống lại những tộc man rợ khác định xâm chiếm La Mã. Vào thế kỷ thứ tư, nhiều người trong thế giới La Mã __ nhất là trong những tỉnh vùng biên __ có tổ tiên là những tộc man rợ. Nhưng hết thảy dân chúng trong thế giới La Mã đều khiếp đảm trước ý nghĩ những bộ tộc bên kia biên giới đang tràn đi tìm những vùng đất mới và tìm thấy Đế chế La Mã là một nơi để mình chiếm lấy một phần hoặc một nơi để mình cướp bóc và hủy diệt.

Điều quan trọng cần nhớ là, mặc dù một số tộc man rợ này có tên tuổi, họ liên tục dời chuyển, đi từ nơi này đến nơi khác, tạo thành liên minh lúc này rồi gây chiến nhau khi khác, không có thang bậc về quyền hành đúng chuẩn hoặc đường dây kế vị. Thông tin ta có được về họ thì rời rạc và thiếu thốn, vì chúng ta căn cứ vào các nguồn tư liệu của La Mã, và chúng thường lẫn lộn về đối tượng họ đang bàn tới. Không ngạc nhiên khi người La Mã vốn có đầu óc tổ chức nhìn người man rợ với vẻ hải hùng: Họ không biết đối xử với họ cách nào hoặc làm thể nào điều khiển họ.

Sau đây là những tộc man rợ quan trọng nhất. Chú ý là họ đánh đấm với nhau cũng như với người La Mã, và có lúc hợp tác với người La Mã:

  • Người Goth: Người Goth chia làm hai nhóm: Ostrogoth (‘Người Goth Sáng Suốt’) và Visigoth (‘Người Goth Khôn Ngoan’). Người Ostrogoth sống tại khu vực ngày nay là Ukraine, và người Visogoth sống ở vùng ngày nay là Romania, nhưng họ xuất xứ từ S Vào giữa thế kỷ thứ ba AD, người Goth tràn xuống Đế chế La Mã, vì bị người Alan, một bộ tộc sống trên thảo nguyên châu Á, đẩy đi. Vào 251, vua người Goth Cniva giết chết hoàng đế Trajan Decius (xem lại Chương 19). Sau đó họ thử hợp tác với người La Mã dưới hình thức liên hiệp, nhưng người Visigoth giết chết hoàng đế Valens vào năm 378 (xem mục sau ‘Valens ở miền Đông’). Vào 410, thủ lĩnh người Visigoth trở thành người liên minh với phần còn lại của Đế chế La Mã miền Tây.
  • Người Vandal: người Vandal là một bộ tộc Đức xuất xứ từ Scandinavia và đầu tiên xuất hiện gây rắc rối dưới triều Marcus Aurelius (xem Chương 17) khi họ vượt qua sông Danube. Họ đánh nhau với láng giềng của mình là người Visigoth, và người La Mã thừa thế ngư ông đắc lợi đánh tan họ. Họ luôn thực sự là mối phiền toái cho đến 406 khi, bị người Hung nô đẩy tới, họ vượt sông Rhine với tộc Alan và Suebi và biến những vùng Gaul và Tây Ban Nha thành hoang địa. Người Vandal do vua của họ là Gunderic cai trị ở Tây Ban Nha đến khi ông qua đời vào năm 428, sau đó họ di chuyển về Bắc Phi.
  • Người Hung nô: Là những kỵ sĩ tuyệt vời, người Hung nô xuất hiện ở miền đông-nam châu Âu vào cuối thế kỷ thứ tư. Họ đánh đuổi người Visigoth ra ngoài, bắt buộc họ phải xâm chiếm Đế chế La Mã, và sau đó đẩy người Vandal vào Ý và Gaul. Thủ lĩnh lừng lẫy nhất của họ là Attila (434-453), nhưng sau khi ông nầy qua đời người Hung nô chỉ còn là một lực lượng tiêu hao.
  • Người Frank: Người Frank là một nhóm bộ tộc Đức trong vùng sông Rhine, bắt đầu tấn công người Gaul và Tây Ban Nha trong cuối thế kỷ thứ ba. Julian II (xem Chương 20) đẩy lùi một cuộc xâm lăng lớn vào 355, và cho đến 425 người Frank phục vụ dưới quyền người La Mã như những binh đoàn liên hiệp, giúp họ chống giữ biên cương. Nhưng vào khoảng 425, một trong những thủ lĩnh mới của họ, Chlodio, bắt đầu một cuộc xâm chiếm mới. Vào cuối thế kỷ thứ năm, người Frank đã chiếm phần lớn xứ Gaul và bây giờ mang tên của họ: France (xứ Pháp).
  • Người Alan: Người Alan du cư sống ở miền nam nước Nga, bị chận đằng sau dãy Caucasus. Đế chế La Mã thường đánh đuổi khi họ tính bành trướng, nhưng cuối cùng do áp lực từ người Hung nô đánh đuổi ra khỏi lãnh thổ. Người Alan cuối cùng đến được Gaul vào 406 và Tây Ban Nha vào 409, tại đó gặp người Vandal, sau đó đơn giản hòa nhập với họ và biến mất khỏi lịch sử.
  • Người Alamanni: Người Alamanni là một nhóm bộ tộc Đức vượt biên giới La Mã khoảng 260. Họ luôn là một vấn đề nan giải, cho dù Julian đã đánh thắng họ một trận lớn vào 357 tại Strasbourg. Vào thế kỷ thứ năm, họ đã định cư tại Alsace trước khi bị người Frank chinh phục.

Tràn xuống từ vùng cao __ Người Man Rợ ở trước Cửa

Sau khi Julian II mất năm 363, chỉ huy lực lượng cận vệ hoàng đế, Jovian, được tuyên bố làm hoàng đế. Việc đầu tiên Jovian làm là thương thảo một hòa ước nhục nhã là trả lại tất cả lãnh thổ chiếm được của Ba Tư từ thời Diocletian hơn 60 năm trước để đổi lấy hòa bình. Khi Jovian sau đó lên đường đi Constantinople, ông chết một cách khá buồn cười là bị ngạt thở trong phòng ngủ do lò sưởi để cháy suốt đêm. Thật là thời khắc tệ hại để mất một hoàng đế. Bọn man rợ đang gõ cửa La Mã, và 50 năm tiếp theo chứng kiến những sự kiện quyết định.

Phân Chia Đế chế thành Đông và Tây

Valentinian phục vụ trong quân đội của Julian và Jovian. Tiếp theo cái chết của Jovian, Valentinian được phong làm hoàng đế tại Nicaea. Trong vòng một tháng, ông là người trị vì duy nhất của thế giới La Mã từ Tây sang Đông, và ông là người cuối cùng làm được như thế. Sau bốn tuần tại vị, ông phong em trai mình Valens làm đồng-hoàng đế. Valentinian giữ miền Tây còn Valens miền Đông. Việc phân chia này là lâu dài. Giờ tương lai của La Mã phụ thuộc vào cách thức các hoàng đế giải quyết người man rợ.

Valentinian I ở miền Tây (AD 364-375)

Valentinian đặt căn cứ tại Milan để gần biên cương hơn. Ông nâng vị thứ của binh lính lên, cung cấp cho họ công cụ để họ có thể làm nông những lúc không đánh trận. Valentinian đặc biệt khinh bỉ người giàu và người có đặc quyền, nhất là người nào cho rằng họ đứng trên luật pháp. Ông quan tâm nhiều đến số phận những thường dân và ra lệnh cho các chỉ huy cận vệ khu vực chỉ định một người Bảo vệ Nhân dân để bảo vệ các quyền lợi của họ. Valentinian cũng quyết rằng đạo Cơ đốc không được áp bức các tôn giáo khác. Vì thế vào năm 371 ông tuyên bố mọi tôn giáo đều được bao dung và không ai bị bắt buộc tôn thờ một thần thánh nào khác hơn người mà mình muốn.

Trong khi ở Milan ra sức củng cố quân đội, Valentinian đối mặt với một loạt những vụ xâm lấn nghiêm trọng của người man rợ. Đầu tiên người Alamanni vượt sông Rhine, nhưng bị quân La Mã đánh tả tơi. Rồi vào năm 367, người man rợ đồng loạt nổi lên tàn phá khắp xứ Anh. Valentinian phải cử Bá tước Theodosius xây dựng lại tuyến phòng thủ và đánh đuổi bọn xâm lấn ra khỏi Anh. Vào năm 374, một đám người Đức vuợt sông Danube. Valentinian đánh đuổi họ về bên kia sông, nhưng khi đoàn sứ thần Đức đến vào năm sau để môi giới một cuộc thỏa thuận, họ làm Valentinian nổi giận đến nổi ông bị đứt mạch máu và tắt thở ngay tại chỗ.

Valens ở miền Đông (AD 364-378)

Valens cũng có khó khăn riêng của mình. Trước tiên ông phải dẹp tắt một cuộc nổi loạn do một quân nhân có tên Procopius tự xưng là hoàng đế. Sau đó ông vượt sông Danube để chặn đầu một vụ xâm chiếm tiềm năng của người Visigoth. Không giống Valentinian, Valens, một tín đồ Arian thuần thành, bắt đầu hàng loạt vụ ngược đãi các tín đồ Thiên chúa chính thống.

Sau đó người Visigoth và Ostrogoth xâm lược đồng loạt, vì bị quân Hung nô phương Bắc đẩy ra khỏi lãnh thổ của mình. Họ được cho phép định cư ở Đế chế miền Đông, nhưng vùng nổi dậy khi bị áp bức và bóc lột. Thêm nhiều bộ tộc Đức vượt biên theo chân họ khiến sự hổn loạn càng gia tăng.

Người Visigoth, đã bị người Hung nô đẩy ra khỏi lãnh thổ của mình, trở thành mối đe dọa lớn nhất đối với Đế chế La Mã miền Tây. Khi đã được ở trong Đế chế, họ liền muốn những vùng đất tốt miền Balkan và tiến về Ý.

Valens mở một cuộc phản công chớp nhoáng và gặp quân Visigoth tại Trận Hadrianopolis vào năm 378. Valens bị đánh bại tơi tả và bị tử trận, thi thể ông không hề được tìm thấy.

Cuối Cùng! Có Người Biết Mình Đang Làm Gì: Theodosius I Đại Đế (AD 379-395)

Vào 375, các con trai của Valentinian là Gratian, lúc đó mới 15 tuổi, và Valentinian II, 4 tuổi, kế vị cha mình ở miền Tây (hai người là anh em cùng cha khác mẹ). Vào 378, nay Valens cũng mất, Gratian đủ khôn để biết mình không thể cáng đáng hết toàn Đế chế vì mình còn quá trẻ. Họ chọn Flavius Theodosius, con trai của Bá tước Theododius, người được cử đi Anh sau thảm họa năm 367, và tôn ông làm Augustus miền Đông. Flavius Theodosius sinh ra tại Italica ở Tây Ban Nha, cùng nơi với hai hoàng đế vĩ đại nhất của hoàng đế La Mã, Trajan (98-117) và Hadrian (117-138) (xem Chương 17 để biết thêm về hai vị minh quân này), và theo một vài phương diện, ông noi theo tiếng tăm của những người tiền nhiệm.

Theodosius có thể được tha thứ nếu ông từ chối công việc mới của mình. Cha ông, Bá tước Theodosius, đã bị hành hình khoảng năm 375 vì bị kết tội phản quốc, và ông đã rút lui về Tây Ban Nha. Nhưng ông cũng nhận lời mời của Gratian làm chỉ huy trên vùng sông Danube vào 378 và sau đó được thăng chức làm Augustus miền Đông vào năm 379.

Thuê người Visigoth

Theodosius lúc đầu đánh nhau với người Visigoth nhưng ông sớm nhận thấy việc này là bất khả. Ông chọn cách giải quyết dựa vào nguyên tắc ‘nếu ta không thể thắng được chúng, thì đi theo với chúng’, nhưng thật ra là ông khiến cho người Visigoth đi theo La Mã chứ không phải ngược lại. Người Visigoth được cho vào đồng minh liên bang nằm trong Đế chế La Mã. Theo thương thảo họ được cho đất ở Thrace và bù lại phải cung ứng binh lính liên bang cho quân đội La Mã và công nhân nông trại cho nền kinh tế La Mã.

Đây là một ý tưởng khôn khéo, mang lại sự tăng viện cần kíp cho quân đội. Nhưng nó cũng thiết lập một thể chế các bang man rợ độc lập bên trong Đế chế, và nó tốn nhiều tiền bạc. Thedosius tuyên bố rằng mọi thứ và mỗi thứ đều có thể bị đánh thuế. Bao nhiêu tự do của người dân đã bị mất đi có thể được đúc kết bằng sự kiện bây giờ tá điền nào rời bỏ đất mình có thể bị truy tố về tội ‘ăn cắp ngày công’. Ngay cả các viên chức thu thuế có thể bị đánh roi nếu thu không đủ chỉ tiêu.

Lại tan rã nữa: Những cuộc nổi dậy

Ở miền Tây, chính quyền của Gratian thực sự nằm trong tay của Ausonius, vừa là nhà thơ vừa là công sứ vừa là chỉ huy lực lượng vệ binh trên vùng Gaul, Ý, và Phi châu. Gratian thì giám sát các vùng biên giới từ căn cứ ở Trier.

Vào 383, một tai họa đổ ập xuống khi một quân nhân ở Anh tên Magnus Maximus được tuyên bố hoàng đế rồi nhanh chóng khởi hành đi vào Lục địa để thoát khỏi tay Gratian. Gratian bị binh lính mình phản bội khi bỏ ngũ sang phe của Magnus Maximus. Một người lính trong số đó đã giết chết Gratian vào năm 383. Maximus sau đó lấy thêm Gaul, Tây Ban Nha, và Phi châu vào đế chế mới của y.

Tuy nhiên, vào năm 387, Maximius quá tham vọng nên xâm lược Ý. Valentinian II trốn thoát đến Theodosius, người đang thực sự coi sóc Đế chế La Mã.

Theododius hành quân về tây và đánh tan Maximius tại Poetovio vào năm 388. Valentinian được phong làm hoàng đế miền Tây lần nữa, nhưng vào năm 392, ông bị một tướng người Frank của mình tên Arbogastes bóp cổ chết.

Arbogastes không quá ngu để tự xưng hoàng đế, thay vào đó y tìm được một bù nhìn trong triều tên là Eugenius và tuyên bố anh này là hoàng đế, mà đằng sau Arbogastes điều khiển mọi sự. Theodosius từ chối chấp nhận một viên tướng man rợ cai trị thông qua một hoàng đế bù nhìn, liền đánh chiếm Ý năm 394. Theodosius đánh bại quân của Eugenius, rồi hành huyết anh này vào ngày 6/9/394. Arbogastes bỏ chạy rồi tự tử.

Cái chết của Theodosius

Theodosius qua đời bốn tháng sau tại Milan vào tháng 1 năm 395 do bệnh phù. Các con trai của ông Arcadius (tuổi 18) và Honorius (tuổi 11) kế vị ông. Họ đã được phong Augustus. Arcadius (383-408) trị vì miền Đông còn Honorius (393-423) miền Tây. Vì còn trẻ nên cả hai đều dễ dàng bị các quan có thế lực trong triều sai khiến. Arcadius, bị một loạt các chỉ huy vệ binh lần lượt điều khiển, chập chững trị vì miền Đông cho đến năm 408 thì nhường ngôi vị cho con trai Theodosius II mới 7 tuổi. Câu chuyện thực về việc này là do Honorius và cha vợ y, Stilicho, nắm giữ.

Cướp bóc La Mã

La Mã không được xây dựng trong một ngày, đó là câu tục ngữ của Pháp có từ thế kỷ 12. Và nó cũng không bị phá hủy trong một ngày. Đoạn cuối của nó rất nhục nhã và diễn ra chậm chạp, nhưng điểm then chốt là, trong khi La Mã từng là trụ cột của thế giới La Mã, giờ nó hầu như là điều không thích hợp nữa. Tất nhiên, nó chỉ quan trọng như một biểu tượng, còn trong thực tiễn nó chỉ là vai phụ. Một trong những điều mỉa mai là ngay chính những con người man rợ mà La Mã luôn nỗ lực đuổi ra lại giữ cho La Mã được sống lâu như đã sống.

Stilicho: Mua chuộc người Visigoth

Vào 395 khi Theodosius mất, con trai ông Honorius chỉ mới 11 tuổi, vì thế không có gì ngạc nhiên khi quyền lực nằm trong tay Binh Sư và sau này là cha vợ của Honorius; một vị tướng người Vandal tên Flavius Stilicho.

Stilicho đánh đuổi cuộc xâm lược của người Visigoth vào Ý dưới quyền của Alaric vào năm 402 tại Pollentia (Pollenza), và rồi đánh đuổi người Ostrogoth khi họ xâm lược vào năm 405 tại Faesulae (Fiesole), nhưng ông không thể hoặc không muốn ngăn người Visigoth luôn hăm hở giờ lại dòm ngó Ý. Stilicho không buồn ngăn chặn họ, vì y đang ôm ấp tham vọng chinh phục Đế chế La Mã miền Đông. Đối thủ chính của y là Rufinus, một trong những viên chức của Arcadius.

Năm 406, một lũ người Vandal cùng với các bộ tộc khác, trong đó có người Alamanni và Alan, vượt sông Rhine và tàn phá xứ Gaul. Stilicho không làm gì hoặc làm chiếu lệ để đánh đuổi họ vì y muốn bảo tồn lực lượng của mình cho cuộc tấn công Đế chế miền Đông. Trong lúc đó, y đồng ý giao một số lượng lớn vàng cho thủ lĩnh Alaric của người Visigoth, nhóm người mà Theodosius đã cho phép định cư trong Đế chế La Mã, và đang yêu sách được đút lót. Việc này khiến dậy lên mối nghi ngờ là Stilicho muốn dùng Alaric giúp con trai y làm hoàng đế. Thế là binh đoàn của y nổi loạn, và Stlicho bị hành quyết vào năm 408.

Trong thời gian này, triều đình đặt tại Ravenna ở miền đông-bắc Ý, được vùng đầm lầy bao quanh thành phố che chở. Các nhà thờ và các công trình khác được xây dựng trong thời kỳ cuối của La Mã ở Ravenna là một số di tích hoành tráng nhất còn sống sót từ thời cổ. Chúng được bảo tồn tốt nhờ vào vị trí xa xôi của mình.

Như thể các trận đánh nhau với người Visigoth vẫn chưa đủ, vào năm 407, ở Anh bùng phát một vụ nổi loạn khác, lần này một gã tên là Constantine III mà nét hấp dẫn duy nhất của gã chỉ là cái tên mạo nhận, gợi nhớ đến những binh đoàn trong những ngày vinh quang của Consatntine I. Thấy ở Ý tình hình đang hổn loạn, Constantine III cầm đầu một đám binh sĩ nổi loạn khác vào xứ Gaul. Vào năm 409, gã đánh chiếm Tây Ban Nha, nhưng bị đám man rợ tràn đến. Gã bị đánh bại và bị quân của Honorius giết chết vào năm 411, một thành tích cũng đáng kể nếu xét những gì đang xảy ra ở La Mã trong thời gian sắp đến (giải thích trong mục sau).

Alaric và sự thất thủ của La Mã vào năm 410

Vào năm 408, Stilicho bị ám sát trong một vu đảo chính cung đình khi có tin đồn y có thể đang dự tính cho con trai mình làm hoàng đế với sự giúp sức của Alaric. Các binh đoàn Đức trong quân đội La Mã, giờ đang sợ chết khiếp cho bản thân và gia đình mình, nhanh chóng đi theo Alaric và người Visigoth. Stilicho giờ đã chết, không có bè bạn tin dùng trong triều đình La Mã, Alaric thấy đây là thời cơ, liền xông vào Ý.

‘Và khi La Mã thất thủ __ thế giới’ (Lord Byron)

Người Visigoth tràn xuống La Mã và bắt đầu một loạt ba cuộc vây hãm La Mã:

  • Năm 408, sau khi Stilicho bị hành quyết, nhiều gia đình trong binh đoàn man rợ liên bang bị tàn sát. Những binh đoàn đó chạy đến Alaric, đang chuẩn bị vây hãm La Mã vào tháng chín năm 408. Đối mặt với viễn ảnh bị chết đói, Viện nguyên lão ra lệnh nộp một số tiền chuộc thuyết phục Alaric rút lui. Tất cả điều Alaric muốn là được Honorius công nhận một cách chính thức. Khi điều này không xảy ra Alaric lại vây hãm La Mã lần nữa vào năm 409.
  • Năm 409, Alaric bắt Viện nguyên lão điều đình. Y dựng hoàng đế bù nhìn của mình, Attalus, lên ngai vàng La Mã. Nhưng Attalus bất lực, vì thế Alaris truất phế y và quyết định thương thảo với Honorius vào 410. Khổ thay, một thủ lĩnh đối thủ Visigoth có tên Sarus dùng ảnh hưởng của mình để phá hỏng tiến trình hòa đàm.

Alaric cho rằng Honorius phải chịu trách nhiệm về việc đó và cho vây hãm La Mã lần nữa để trừng phạt.

  • Tháng 8 năm 410, Alaric được một nhóm phản bội dẫn đường vào La Mã. Lần đầu tiên kể từ khi người Gaul cướp phá La Mã vào năm 390 BC (xem Chương 11), thành phố mới bị kẻ thù chiếm đóng. Thật ra, người Visigoth tương đối không gây thiệt hại nhiều. Họ để yên nhà thờ và dân chúng ẩn nấp trong đó, chẳng hạn. Nhưng họ có thể đã đốt rụi Pháp đình Aemilia trong Quảng trường, vì chắc chắn nó bị phá hủy khoảng thời gian đó.

Sự thất thủ của La Mã năm 410 là một trải nghiệm choáng váng, không chỉ cho người La Mã, mà còn cho những công dân La Mã ở khắp mọi nơi. Nói cho đúng, như đang đối mặt với ngày tận thế.

Thật ra Alaric chỉ lưu lại ba ngày ở La Mã trước khi hướng về miền nam Ý với em gái một cha khác mẹ của Honorius là Galla Placidia. Y chết trước khi có thể bắt đầu một kế hoạch xâm lược châu Phi và được cho là chôn cất dưới một con sông (con sông trước tiên phải được đổi dòng chảy để có thể đào được mộ phần).

Đọc thêm: Các ông chồng của Placidia

Galla Placidia lấy người kế vị của Alaric, Ataulf, vào năm 414. Honorius không tán thành, và cử tướng Constantius đuổi Ataulf về Tây Ban Nha và cho người ám sát y. Placidia được người kế vị của Ataulf là Wallia trả về cho người La Mã. Để thưởng công, y được cho phép tạo dựng một bang cho người Visigoth trong xứ Gaul.

Vào năm 417, Galla Placidia lấy tướng Constantius. Con trai của họ ra đời hai năm sau. Vào 421, Constantius được phong làm đồng-hoàng đế với Honorius nhưng qua đời cùng năm đó. Sự đời trớ trêu xảy ra sau đó khi Honorius cũng mê mệt người em gái cùng cha khác mẹ Placidia của mình. Việc phơi bày ‘tình cảm’ công khai của ông gây ra phẫn nộ trong công chúng cũng như cho bà, vì thế bà trốn chạy đến Constantinople vào năm 423, cùng năm Honorius qua đời.

Bỏ Anh đảo

Năm 410 nói chung là một năm xấu. Ngoài việc La Mã thất thủ, xứ Anh cũng bị bỏ lại. Honorius bảo dân trên Anh đảo hãy tự bảo vệ mình, dù thật ra các người Briton trên Anh đảo đã đuổi các viên chức La Mã ra khỏi năm trướcrồi. Chỉ còn một số ít toán binh lính ở lại giờ cũng rút đi. Gã nổi loạn Constantine III đã chiếm hết những gì để lại.

Lê Bước Tiến Lên

Trong thời gian còn lại của thế kỷ thứ năm, bọn man rợ từ vùng bắc và trung tâm châu Âu rầm rộ di chuyển vào Đế chế La Mã. Sự kiện các bang man rợ độc lập đã được lập ra trong lòng Đế chế La Mã đã báo trước tương lai.

Trong thời gian này, các hoàng đế La Mã tại vị không phải lúc nào cũng là người có thực quyền. Ở miền Đông, Theodosius II (402-450) là Augustus, nhưng quyền lực thực sự nằm trong tay chị gái mình là Aelia Pulcheria (trị vì như đồng nhiếp chính từ năm 414). Bà ta vẫn nắm quyền cho đến cuối đời và mất vào 453. Là tín đồ Cơ đốc thuần thành, bà khấn nguyện được trinh bạch để không bị ép vào hôn nhân. Nhiều quyết định của bà có ảnh hưởng của Cơ đốc giáo; bà bắt Theodosius lưu đày những người Do thái ở Constantinople, chẳng hạn. Ở miền Tây, cuộc tranh chấp quyền lực vẫn tiếp diễn:

  • Johannes (423-425): Là thư ký của Honorius, Johannes kế vị Honorius. Hoàng đế miền Đông, Theodosius II, phái quân đội đến để trừ khử Johannes. Một vị tướng La Mã có tên Flavius Aetius đã rước một đạo quân Hung nô để yểm trợ cho Johannes, nhưng họ xuất hiện quá trễ. Galla Placidia đã mua chuộc đám Hung nô của ông và cử ông giải quyết người Visigoth và Frank ở Gaul.
  • Valentinian III (425-455): Con trai Valentinian của Galla Placidia trở thành Augustus của miền Tây khi họ trở về La Mã. Galla Placidia làm nhiếp chính miền Tây trong 12 năm cho đến khi bà lui về lo việc xây dựng nhà thờ ở Ravenna (bà mất năm 450). Quyền lực thực sự bây giờ nằm trong tay Aetius, Binh Sư của hoàng đế. Không thể ngăn cản sự phân hóa đang tiếp diễn của Đế chế La Mã miền Tây. Vào 429, người Vandal dưới sự lãnh đạo của Gaiseric đã băng qua Gaul và Tây Ban Nha, chinh phục châu Phi và chiếm đóng vào năm 439. Vào 429, Aetius không thể làm gì với bọn Vandal ở châu Phi. Nhưng ông xoay sở đẩy lùi được bọn Đức, dẹp tan các cuộc nổi dậy của nông dân, và đánh bại bọn Burgundian.

Attila nguoi Hung nô (trị vì AD 434-453)

Mọi người đều đã nghe nói về Attila người Hung nô. Đây là dịp để tìm hiểu ông ta đã làm gì. Attila lớn lên như một con tin người man rợ tại triều đình của hoàng đế Honorius. Honorius kỳ vọng y sẽ trưởng nên thân thiện với người La Mã hơn, nhưng đồng thời cũng có nghĩa là y trưởng thành và nắm rõ cách thức thế giới La Mã hoạt động. Năm 432, Attila và em trai Bleda thừa kế quyền lãnh đạo người Hung từ chú mình Ruga. Họ lập tức xâm chiếm Ba Tư, rồi tiếp theo mở những trận đột kích vào Đế chế La Mã, vươt sông Danube vào năm 440 và cướp phá các thành phố ở Illyria. Vào 443, một cuộc xâm lược khác theo sau, mà đỉnh điểm là trận vây hãm Constantinople nhưng sớm kết thúc vì họ không có công cụ bắc thang leo qua tường thành. Vào 447, Attila tấn công Đế chế La Mã lần nữa và đánh bại quân La Mã tại Moesia trước khi xua quân về nam thẳng đến Thermopylae ở Hy Lạp. Constantinople được giải cứu vì thành phố đã được tu bổ sau thiệt hại vào năm 443, nhưng Đế chế miền Đông đồng ý trả tiền chuộc cho Attila khỏi xâm hấn.

Trong khi đó, người Hung nô đã đổ các binh đoàn vào Đế chế miền Tây. Năm 450, Đế chế miền Đông đã ngưng trả tiền mặt cho Attila. Valentinian III ra lệnh cho chị gái mình là Honoria lấy một người La Mã mà bà không ưa, vì thế Honoria gởi chiến nhẫn của mình đến Attila và xin cầu cứu. Attila xem đó là một lời cầu hôn và yêu sách nửa Đế chế miền Tây làm của hồi môn. Valentinian III nói không với Attila, và thế là Attila người Hung nô xua quân xâm chiếm miền Tây. Năm 451, Flavius Aetius đánh bại Attila tại Trận Maurica (cũng được biết là Trận Chalons), đó là lần duy nhất Attila từng bị thua trận. Attila rút quân nhưng xâm lược Ý lần nữa vào 452. Aetius dùng lực lượng của mình chỉ để quấy rối Attila đang cướp bóc các thành phố và đòi lấy Honoria bằng được. Cuối cùng một sứ đoàn đến gặp Attila và thuyết phục ông ngưng chiến. Ông rút quân bỏ đi. Năm 453, Attila chết vì đứt mạch máu. Đế chế Hung nô sụp đổ như thường xảy ra đối với những vương quốc man rợ khi các thủ lĩnh lừng lẫy của họ mất đi.

Aetius bị ám sát (AD 454) và Valentinian III (AD 455)

Năm 454, tướng Flavius Aetius bị Valentinian III mưu sát vì đe dọa hoạn quan triều đình Heraclius và Petronius Maximus (người hai lần chỉ huy vệ binh của La Mã và Ý). Sự kiện này kết thúc cuộc đời của một trong những nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử La Mã trong hơn 20 năm vừa qua. Và lần này chính hoàng đế thực sự ra tay, đâm chết Aetius. Chuyện kể rằng, sau khi hạ thủ, một ai đó đã thốt lên ‘cánh tay trái của ngài đã chặt đứt cánh tay phải của ngài’, nghĩa là Valentinian giờ đã phá hỏng các cơ hội trị vì đúng đắn của mình.

Petronius Maximus cho rằng mình giờ là người trên chót vót trong triều đình Valentinian, nhưng hoạn quan Heraclius bảo với Valentinian đó là ý tồi. Để đáp trả, Petronius thuê hai người lính của Aetius trả thù cho chủ tướng mình. Năm 455 họ giết chết Heraclius và Valentinian.

Petronius Maximus được tuyên bố là hoàng đế vào 17 tháng 3 năm 455 và cưới người vợ góa bất đắc dĩ của Valentinian III, tên là Licinia Eudoxia. Nhưng y chỉ trụ được khoảng 70 ngày vì bà gởi một mật thư cho Gaiseric, vua người Vandal ở châu Phi. Gaiseric có kế hoạch riêng của mình về đế quyền khi dự trù gả con trai Huneric của mình cho con gái Eudocia của Valentinian và Eudoxia.

Khi Petronius nghe tin quân Vandal từ châu Phi lên đường tiến về La Mã, y kinh hoàng và trốn thoát. Nhưng trước khi y có thể chạy khỏi La Mã, một đám đông đã giết chết y. Gaiseric đến nơi và chở cả Eudoxia, Eudocia, và em gái của bà Placidia Trẻ về Carthage. Họ sau đó được phóng thích, và Placidia Trẻ còn có dịp đóng một vai trò trong màn cuối cùng của La Mã.

Cái chết của Valentinian III là một thảm họa đối với miền Tây vì nó đánh dấu đoạn cuối của một triều đại có nguồn gốc từ Valentinian I và Valens, gần một thế kỷ trước. Với tất cả những lỗi lầm, triều đại này đã xoay sở tạo được một phần nào đó sự ổn định ở trung tâm cho dù quyền lực gần như luôn nằm trong tay của những người như Stilicho và Aetius, và Đế chế miền Tây đã dần dần bị xói mòn liên tục bởi các cuộc xâm lấn của người man rợ.

Một ít hoàng đế theo sau và sự hưng thịnh của Ricimer

Theo sau cái chết của Valentinian III, một loạt các hoàng đế xưng (hoặc bị thuyết phục phải xưng) là hoàng đế của Đế chế La Mã miền Tây, mà trong thời gian đó chỉ rộng hơn lãnh thổ Ý một chút. Tất cả phải thỏa thuận với Magister Militum (Binh sư) Ricimer, một vị tướng pha hai dòng huyết thống Visigoth và Suebian, người đang nắm thực quyền ở miền Tây giữa những năm 455-472. Sau đây là sơ lược các hoàng đế La Mã miền Tây:

  • Avitus (455-456): Vua người Visigoth là Theodoric II thuyết phục Avitus lên ngôi. Miền Tây đã bị vắt kiệt sức đến nỗi vị hoàng đế mới phải rút đồng từ các công trình công cộng để trả cho người Goth trong quân đội của ông. Như thế là quá sức đối với người La Mã, họ bèn ép buộc ông phải tháo chạy. Ông sau đó bị Ricimer đánh bại và truất phế.
  • Majorian (457-461): Majorian, người đã từng phục vụ dưới trướng của Aetius, kế vị Avitus. Majorian đánh bại quân Vandal ở Gaul, nhưng vì bị phản bội, hạm đội của ông, đang chuẩn bị ở Tây Ban Nha định tấn công quân Vandal ở châu Phi, bị phá hủy trước khi ra khơi. Majorian bị Ricimer truất phế và hành hình, sau đó cử một bù nhìn tên là Libius Severus lên ngôi.
  • Libius Severus hay Severus III (461-465): Quyền hành thực sự phía sau ngôi vua là Ricimer. Kết quả là trên thực tế ta không biết gì về Libius Severus. Có thể Ricimer đã giết ông.
  • Anthemius (467-472): Leo I (457-474), bây giờ là hoàng đế miền Đông, bổ nhiệm chính Anthemius. Anthemius là con rể của Leo. Ông hi vọng kế vị Leo nhưng vẫn nhận ngôi vị miền Tây. Ông đến nơi vào 467 và ngay lập tức được công bố hoàng đế; con gái thậm chí còn lấy Ricimer. Một cuộc chinh phạt do Đông-Tây kết hợp tiến đánh Gaiseric và bọn Vandal ở châu Phi kết thúc trong thảm bại khi Gaiseric đánh hạm đội La Mã tan tác. Các sự kiện xảy ra ở Gaul sau đó còn làm tình hình thêm phức tạp: Vương quốc của Visigoth đã bị Euric tiếp quản sau khi y giết chết anh mình Theodoric II và bắt đầu lên kế hoạch chiếm toàn xứ Gaul và tách nó ra khỏi Đế chế La Mã. Euric đánh bại một đoàn quân La Mã. Sự hiềm khích giữa Ricimer và Anthemius nảy sinh sau đó, và Leo I phái một người có tên Olybrius đến giải quyết sự tranh cãi giữa họ. Tuy nhiên, Ricimer quyết rằng theo Anthemius là chắc chắn thất bại, bèn dựng Olybrius lên làm một hoàng đế đối thủ. Olybrius bổng lấy con gái của Valentinian là Placidia Trẻ. Ricimer vây hãm La Mã. Anthemius trốn thoát bằng cách ngụy trang là một tên ăn mày, nhưng bị phát hiện và bị đem ra hành hình. Ricimer cũng mất ít tuần sau đó.
  • Olybrius (472): Anicius Olybrius, một thành viên của gia đình Anicii nghị sĩ, mất năm 472 vì các nguyên nhân tự nhiên chỉ một ít tháng sau khi được cử làm hoàng đế. Sau khi Olybrius mất, phải mất bốn tháng mới tìm được người thích hợp cử làm hoàng đế.
  • Glycerius, Bá tước vùng Domestics (473-474): Ông được Binh Sư đương nhiệm là Gundobad (nhiệm kỳ 472-473) công bố là hoàng đế ở Ravenna vào năm 473. Thành tựu duy nhất của Glycerius là thuyết phục người Ostrogoth thay vì xâm chiếm Ý hãy xâm chiếm xứ Gaul.
  • Julius Nepos (474-475): Hoàng đế miền Đông Leo I từ chối công nhận Glycerius và cử Julius Nepos, cháu vợ của ông, làm hoàng đế thay thế. Gundobad bỏ rơi Glycerius khiến Nepos dễ dàng tiếp quản ngôi vị vào tháng 6 năm 474. Ông chỉ tại vị vỏn vẹn một năm trước khi Binh Sư mới Orestes (475-476) cầm đầu một cuộc nổi loạn.

Hoàng đế cuối cùng ở miền Tây: Romulus Augustus (AD 475-476)

Orested, người cầm đầu một cuộc nổi dậy chống hoàng đế Julius Nepos, cử con trai 16 tuổi của mình lên làm hoàng đế. Do một sự trùng hợp lạ thường, tên chàng trai này là Romulus Augustus, khiến ta nhớ đến tên người sáng lập La Mã và cũng là hoàng đế đầu tiên của La Mã. Tất nhiên, Oresres nắm hết quyền hành, và y trị vì phần còn lại của Đế chế miền Tây không đến một năm. Vào tháng 8 năm 476, lực lượng quân man rợ trong quân đội của Orestes nổi loạn, giết chết Orestes, và cử thủ lĩnh của mình Odovacer làm vua La Mã. Romulus Augustus được phép lui về (y sống đến 511 là ít nhất).

Giờ đã cách năm sáng lập La Mã 1,229 năm và 985 kể từ khi vị vua cuối cùng của La Mã, Tarquinius Superbus, bị tống khứ.

Odovacer cử một phái đoàn nghị sĩ đến Constantinople và tuyên bố miền Tây không còn cần đến hoàng đế nữa. Nói chặt chẽ, thì Julius Nepos, trên giấy tờ, còn là vị hoàng đế ‘hợp pháp’ __ nếu có thể nói như vậy __ nhưng trong chính La Mã, người cuối cùng là Romulus Augustus.

Hoàng đế mới miền Đông, Zeno (474-491), không có lực chọn nào khác hơn là chấp nhận. Ông phong Odovacer làm Binh Sư và kết hợp với miền Tây vào miền Đông một lần nữa. Ý bây giờ nằm dưới quyền trị vì của các vị vua Đức, đặt căn cứ tại Ravenna, từ năm 476. Thay vì phá bỏ truyền thống La Mã, Odovacer (Vua xứ Ý 476-493) và Theodoric Đại Đế của người Ostrogoth (Vua xứ Ý 493-526) thoát khỏi lề lối của mình để bảo tồn những truyền thống ấy. Odovacer tiếp tục truyền thống giải trí công cộng trong Colosseum và thậm chí còn phục hồi đấu trường đã xuống cấp. Theodoric, mặc dù hạ sát Odovacer để cướp quyền lực, là người có giáo dục tại Constantinople. Ông duy trì các định chế của La Mã dưới một hệ thống luật pháp và làm một số việc tốt để chứng tỏ là người có văn hóa, trong khi cùng lúc đó đưa vào 200,000 người Ostrogoth. Nhưng không thể lờ đi sự thật là Đế chế La Mã ở miền Tây đã cáo chung, mặc dù La Mã vẫn còn là nơi ở của giáo hoàng.

Chuyện Gì Xảy Ra ở các Tỉnh Lỵ Miền Tây

Lịch sử Tây Âu sau thế kỷ thứ năm là một lịch sử phức tạp và là một chủ đề cho một quyển sách đồ sộ khác. Nhưng về cơ bản là những tỉnh lỵ Tây La Mã đơn giản phân mảnh thành đa dạng các vương quốc, các lãnh địa của lãnh chúa, lãnh địa của công tước, và các thái ấp, mặc dù tiến trình đó đã phát triển xa vào thời điểm 410 khi La Mã thất thủ và đến năm 476 thì càng phổ biến.

Sự khác biệt cơ bản với những ngày tháng La Mã cai trị là những bang này phụ thuộc nhiều vào uy tín các nhà cai trị bản địa hơn là vào định chế của chính quyền trung ương, và họ đặt nền móng cho nhà nước châu Âu ngày nay: một tổ hợp những quốc gia khác nhau có ngôn ngữ riêng, truyền thống riêng, và nhân diện riêng.

Sau đây là sơ lược của những gì xảy ra:

  • Ý: Vào năm 536, người Byzantine chiếm lại La Mã (xem mục sau, ‘Ở miền Đông: Đế chế Byzantine’), nhưng vào năm 568, Ý bị dân tộc Lombard gốc Đức chinh phục. Năm 756, các Bang Giáo hoàng, do giáo hoàng từ La Mã cai trị, được hình thành. Vào năm 800, Ý là một bộ phận của Đế chế La Mã Thần Thánh của Charlemagne, nhưng các cuộc đấu tranh giành quyền lực phát triển với các Bang Giáo hoàng và các thành phố Ý độc lập. Vào thế kỷ thứ mười lăm, Ý tạo bởi các vương quốc đối thủ là Milan, Florence, Venice, Naples, và các Bang Giáo hoàng. Cho mãi đến 1870 Ý mới trở thành một quốc gia lần nữa lần đầu tiên từ 476.
  • Anh: Anh đã bị ra rìa từ năm 410. Giáo hội vẫn còn trong vòng kiểm soát đến tận thế kỷ tứ năm, nhưng tất cả các thị trấn, đồn lũy, điền trang, và hạ tầng tiếp tục rơi vào tình trạng bỏ bê. Chỉ sau khi Cuộc Chinh Phục Norman trong thế kỷ 11 mà England mới được trị vì như một quốc gia duy nhất. Wales được thêm vào trong thế kỷ 14. Năm 1707, Scotland tham gia vào England và Wales để tạo ta nước Anh. Mỉa mai thay, trong thế kỷ 18 và 19, Anh đã thiết lập một Đế chế rộng lớn mà nếu so ra thì Đế chế La Mã chỉ còn nhỏ xíu __ quả là một thành tựu phi thường tại một nơi mà trước đây La Mã coi là vùng đất man rợ nằm bên rìa thế giới.
  • Gaul: Các tỉnh lỵ La Mã ở xứ Gaul tràn ngập những bộ tộc Đức trong đó có dân Frank. Vua Clovis người Gaul (481-511) sáng lập một vương quốc người Frank theo Cơ đốc giáo đặt thủ đô tại Paris, nhưng rồi vương quốc cũng phân rã cho đến khi Pepin Vua Lùn (751-768) tái thống nhất và sáng lập nên triều đại Carolingian. Con trai ông là Charlemagne sáng lập Đế chế La Mã Thần Thánh (xem Chương 1) trong phần lớn lãnh thổ Tây Âu.
  • Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha: Trong thế kỷ thứ năm, Visigoth và Vandal tràn ngập tỉnh lỵ Hispanoa của La Mã và sáng lập vương quốc Visigoth.
  • Đức: Chỉ những bộ phận nhỏ của Đức từng nằm trong Đế chế La Mã. Charlemagne của người Frank xáp nhập Đức vào Đế chế La Mã Thần Thánh.

Miền Đông: Đế chế Byzantine

Miền Tây không còn nữa, miền Đông đang trôi theo vận mệnh của mình. Các sử gia gọi nó là Đế chế Byzantine, từ tên cũ của Constantinople là Byzantium, mặc dù tên này chỉ được đặt ra vào thế kỷ 16 AD, hàng thập niên sau khi nó đã ngừng tồn tại. Người Byzantine tự cho mình là Đế chế La Mã vì, theo quan niệm của họ, nó là sự tiếp nối của đế chế cũ không hơn không kém. Thật vậy, miền Đông tiếp tục xử sự như thể La Mã và miền Tây vẫn còn là một bộ phận đang vận hành đầy đủ của thế giới La Mã. Giáo hoàng vẫn còn ở La Mã (thuộc miền Tây), và ngay cả Latinh vẫn còn là ngôn ngữ hằng ngày của chính quyền ở Constantinople mặc dù hầu hết dân chúng ở miền Đông nói và viết tiếng hy Lạp.

Thật ra là lịch sử của Đế chế Byzantine là một câu chuyện sẽ phải cần một cuốn sách nữa mới nói hết. Tôi chỉ xin tóm tắt ngắn gọn như có thể. Đó là câu chuyện của những thăng trầm, nhưng sự kiện không thay đổi là Để chế Byzantine trong suốt thời gian còn lại tiếp tục nhỏ dần, yếu dần, và nghèo dần. Cũng khá khen cho người Byzantine, phải đến một ngàn năm nữa nó mới cáo chung.

Sự căng thẳng tôn giáo

Giáo hội Cơ đốc đã rất tốt khi đưa ra những lý do để ly khai kế từ khi Constanrine I ban hành Sắc lệnh Milan, áp dụng sự bao dung tôn giáo trên Để chế La Mã, ngược về năm 313 (xem Chương 20). Giờ không có gì khác.

Theodoric Đại Đế, vua theo giáo thuyết Arian của miền Tây, cũng tương đối cảm hứng khi nói về sự bao dung tôn giáo, nhưng giáo hội miền Đông bắt đầu áp đặt mọi người hát cùng một bài thánh ca, có thể nói như thế.

Vấn đề lại là ‘bản chất’ của Christ: Liệu ông ta có sở hữu một bản chất Thánh đơn lẻ, hoặc một bản chất kép, vừa Thánh vừa Phàm (như lời dạy của Thiên chúa Chính thống)?

Học thuyết Nhất Thể có nghĩa là học thuyết ‘một bản chất độc nhất’. Người theo thuyết này tin rằng Christ sở hữu một bản chất độc nhất là Thánh. Thuyết Nhị Thể là học thuyết ‘hai bản chất’. Người theo thuyết này tin rằng Christ sở hữu một bản chất kép: vừa Thánh vừa Phàm. Học thuyết Thiên chúa Chính thống (cho Christ có bản chất kép) thống trị ở Constantinople. Họ muốn mọi người đều noi theo để giao hội Đông và Tây có thể hợp tác với nhau. Hoàng đế miền Đông mới, JustinI (518–527), hậu thuẫn chính sách này. Còn Theodoric ở miền Tây bực bội vì điều này. Nhưng dù vậy ông vẫn cho phép Giáo hoàng John I đến thăm Constantinople vào năm 526, nhưng khiếp đảm khi nghe tin John được những đám đông cuồng nhiệt nghênh đón ông. Khi John trở lại La Mã, ông bị tống giam và mất, chẳng bao lâu sau đó Theodoric cũng nối gót theo sau. Triều đại Theodoric dần dần sụp đổ theo thời gian, trong khi Justinian I bắt đầu một chiến dịch quy mô hòng khôi phục miền Tây.

Justinian I (AD 527–565)

Nếu ông sống sớm hơn 400 năm, Justinian (cháu của Justin I) sẽ là một trong những hoàng đế La Mã vĩ đại. Dù vậy, ông ắt hẳn vẫn là hoàng đế Byzantine quan trọng nhất và là vị hoàng đế có công lao giữ gìn những gì còn lại của Đế chế La Mã.

Những dấu hiệu hi vọng và những bước đi tốt

Một trong những việc đầu tiên mà Justinian thực hiện là sắp xếp bộ luật La Mã (xem Chương 1). Tác phẩm Digest (‘Luật vựng’) của ông chứa một số lượng lớn các thông tin tối thiết về cách thức vận hành của thế giới La Mã, trong khi những án lệ khác nhau lưu giữ mọi loại minh họa về cách thức xã hội La Mã hoạt động trong thời kỳ Cộng Hòa và Nguyên Thủ.

Với vị tướng Belisarius (khoảng 505-565), Justinian bắt đầu kế hoạch giành lại Đế chế La Mã. Vào năm 530, Belisarius đánh bại quân Ba Tư, và vào năm 532, ‘hòa bình vĩnh cữu’ được ký kết. Hòa bình không kéo dài lâu, nhưng biên cương được củng cố. Giữa 533-534, Belisarius đánh bại người Vandal ở châu Phi. Năm 535, ông chiếm Sicily, và 536, ông dẫn đầu một đạo quân chiến thắng vào La Mã. Vào 540, thủ đô của người Ostrogoth ở Ravenna thất thủ. Belisarius phải bỏ đi để đánh quân Ba Tư lần nữa. Ông quay lại Ý vào 544 đế đánh quân Ostrogoth, nhưng rồi lúc đó Justinian đâm ra ngờ vực thắng lợi của Belisarius. Một vị tướng khác, Narsen, cuối cùng đánh bại quân Ostrogoth và tái tổ chức chính quyền Ý vào 554. Sau niên đại đó, Viện nguyên lão ở La Mã không hề nghe nhắc đến lần nữa.

Đế chế sau thời Justinian

Justinian mất năm 565. Ông đã trị vì một lãnh thổ lớn hơn bất kỳ hoàng đế nào khác trong vòng 150 năm qua. Điều mỉa mai là cuộc tái chinh phục miền Tây kết thúc việc trị vì của các vua Đức ở Ý, những người noi theo các định chế La Mã. Chỉ đến khi vua Charlemagne người Frank lên trị vì thì mọi việc giống với Đế chế La Mã xa xưa mới trở về với miền Tây.

Về phần Đế chế miền Đông, nó kéo dài thêm 900 năm nữa. Nhưng Justinian đã vét cạn tài nguyên của nó. Gần như toàn bộ Ý lại mất lần nữa vào 570. Maurice Tiberius (582-602) xoay sở để củng cố và giữ gìn miền Đông, chiến đấu chống quân Ba Tư. Nhưng ở vùng Balkan, ông không thể ngăn được các dân tộc Slav và Avar gậm nhắm uy danh của Đế chế Byzantine. Thêm nhiều mối đe dọa đến từ dân Bulgar và dân Hồi giáo. Vào thế kỷ thứ tám, Leo III (717-741) và Constantine V (741-775) ngăn được người Hồi giáo. Constantine V cũng ép người Bulgar chịu hòa bình vào 774. Sự đăng quang của Charlemagne làm Thánh Đế La Mã ở miền Tây vào 800 do giáo hoàng chủ trì là một cái tát khác vào uy tín của Byzantine.

Một triều đại người Macedonia gồm các hoàng đế, bắt đầu với Basil I (867-886), được báo trước trong một thời điểm khi người Byzantine giành lại vị thế của họ. Basil tạo những bước tiến lớn trong miền Đông về hướng sông Euphrates và dùng hình thức cải đạo để tích hợp dân Slav vào Đế chế. Nicephorus II (963-969) chiếm Cyprus và Antioch, đã vuột khỏi tay Byzantine trong ba thế kỷ. John I Tzimisces (969-976) đánh bại ông hoàng Nga Svjatoslav và tiến vào Palestine, lập đội binh đồn trú dọc theo đường chiến dịch. Vào năm 1025, Đế chế Byzantine được hợp bởi những vùng đất mà bây giờ là: nam Ý, Croatia, Serbia, Bulgaria, Albania, Macedonia, Hy lạp, Thổ nhĩ kỳ, và Cyprus.

Do mắc chứng động kinh, Michael IV (1034-1041), nhờ cậy vào người em hoạn quan John để điều hành Đế chế. John chủ trương sưu cao thuế nặng khiến người Slav nổi loạn. Michael dẹp tan họ, nhưng nỗ lực quá sức đã giết chết ông. Quyền lực Byzantine, phụ thuộc càng lúc càng nhiều vào việc mua lính đánh thuê, đang suy thoái không ngừng.

Đọc thêm: Người Hồi Giáo

Khi nhà tiên tri Mohammed mất vào năm 632, đạo Hồi chỉ tập trung ở một vùng của Ả rập. Nhưng trong vòng 25 năm, Hồi giáo đã lan tràn khắp miền Trung Đông và Ai cập. Vào năm 750, người Hồi giáo đã kiểm soát tất cả tỉnh lỵ La Mã trước đây ở Bắc Phi, Sicily, và hầu hết Tây Ban Nha. Vào cuối thế kỷ 11, người Hồi giáo đã có mặt ở Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ) và kiểm soát gần hết vùng đó vào năm 1250. Đế chế Byzantine trong thời gian này theo đuổi một cuộc chiến càng lúc càng vô vọng, và cuối cùng, Byzantium rơi vào tay người Hồi giáo Ottoman vào năm 1453.

Vụ Ly Khai Lớn của năm 1054

Dưới thời Constantine IX (1042-1055), các giáo hội miền Đông và miền Tây cuối cùng ly khai. Giáo hoàng Leo IX rút phép thông công đối với Giáo trưởng Byzantine là Michael Cerularius. Để đáp lại, Giáo trưởng rút phép thông công đối với phái đoàn La Mã đến Byzantine (giáo trưởng là tên dành cho giám mục của La Mã, Alexandria, Antioch, Jerusalem, và Constantinople, năm tòa giám mục chính của Cơ đốc giáo). Các giáo hội miền Đông và Tây, giờ được biết dưới tên giáo hội Chính thống Thiên chúa miền Tây và giáo hội Chính thống miền Đông theo thứ tự, cùng đi đến một hình thức điều hợp nào đó vào năm 1274 khi Michael VIII (1261-1282) công nhận chế độ giáo hoàng để tranh thủ sự ủng hộ cho cuộc chiến chống kẻ thù của ông, Charles of Anjou. Nhưng sự khác biệt thực sự vẫn còn đó. Cả hai đều nhận mình là Thiên chúa Thiêng liêng Nhất thể và Giáo hội Tòa Thánh, và mãi đến năm 1965 các giáo hội mới gặp nhau và ra sức hòa giải, cho dù trong những thế kỷ trước đó những thành viên khác nhau của Giáo hội Chính thống miền Đông đã liên hệ lại với La Mã và tạo ra Giáo hội Thiên chúa miền Đông.

Sự tàn phá của Thập tự chinh

Dưới thời Constantine X (1059-1067), Đế chế Byzantine trải qua một sự thoái trào ghê gớm nhưng rồi hưởng được giai đoạn hồi phục ngắn ngủi dưới thời Alexius I (1081-1118). Vấn đề tiếp theo đến từ các cuộc Thập tự chinh. Thập tự chinh thực chất là những đoàn quân xuất phát từ Tây Âu muốn chiếm lại Vùng Đất Thiêng (chủ yếu là Jerusalem) khỏi sự kiểm soát của người không theo Cơ đốc giáo (tức người Hồi và người Do Thái giáo). Nhưng đó chỉ là lý thuyết, thực tế nhiều Thập tự quân chỉ quan tâm đến chuyện đánh nhau và cướp bóc. Sau đây là sơ lược về bốn Thập tự chinh:

  • Thập tự chinh thứ nhất 1095-1099: Trong Thập tự chinh này, các Thập tự quân chiếm lại Jerusalem và cực điểm là liên minh với Đế chế La Mã Thần Thánh của dân tộc Đức.
  • Thập tự chinh thứ hai 1144-1150: Các thập tự quân Tây phương đã để mắt đến chính Byzantium. Mặc dù Hoàng đế Manuel I của miền Đông (1143-1180) có thể cầm chân họ, nhưng làm vậy, ông đã để cho người Norman cướp phá Hy Lạp. Quân Byzantine chịu một thất bại toàn diện tại Trận Myriocephalon chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ, được sự giúp sức của Đế chế Đức dưới quyền Frederic Barbarossa (1155-1190), giờ đây là kẻ thù.
  • Thập tự chinh thứ ba 1189-1192: Thập tự chinh này dự tính chiếm lại Vùng Đất Thiêng từ tay chiến binh Hồi giáo Saladin. Kết quả bất thành nhưng một thỏa ước được ký kết cho phép tín đồ Cơ đốc giáo có thể hành hương đến Jerusalem.
  • Thập tự chinh thứ tư 1201-1204: Thập tự chinh này là một thảm họa cho Consatntinople. Do dân Venice tài trợ, kế hoạch ban đầu là xâm lược Ai Cập để chiếm lại các vùng đất thiêng, nhưng người Venice muốn có lợi lộc tiền bạc trong việc đầu tư của mình nên ra lệnh cho các thập tự quân cướp bóc Constantinople. Và họ đã làm theo. Dân Byzantine trốn chạy, và các thập tự quân thiết lập một triều đại Latinh ở Byzantium.

Byzantium thất thủ

Cho dù người Byzantine chiếm lại được Constantinople sau cuộc Thập tự chinh thứ tư, 250 năm cuối cùng của Đế chế Byzantine là câu chuyện buồn về việc ngăn chận những kẻ ngoại xâm từ khắp nơi. Cơn hấp hối cuối cùng lúc phục hồi Đế chế đến vào năm 1261 khi Michael VIII (1261-1282) chiếm lại Constantinople. Mối đe dọa lớn nhất của ông đến từ người Norman Charles of Anjou, Vua Sicily, người gom góp một liên minh tấn công thành phố Byzantium mới. Michael đồng ý công nhận giáo hoàng. Việc này làm cho người Byzantine nổi giận (xem lại mục ‘Vụ Ly Khai Lớn của năm 1054’), nhưng điều đó có nghĩa Giáo hoàng Gregory X chịu thuyết phục Charles of Anjou không tấn công. Charles bị lật đổ vào năm 1282.

Đó thực sự là cơn hấp hối cuối cùng. Vào giữa những năm 1300, tất cả việc mà người Byzantine có thể làm là chứng kiến những gì còn sót lại của Đế chế họ biến mất.

Đoạn kết của thế giới cổ đại

Hoàng đế Byzantine cuối cùng là Constantine XI (1448-1453). Thật là vận xui cho ông là người chứng kiến hồi kết cục. Vua Thổ Nhĩ Kỳ Muhammed II bắt đầu công kích Constantinople vào ngày 7/4/1453. Constantine anh dũng chống đỡ trong bảy tuần, nhưng thành phố sụp đổ dưới một phát minh mới mà các vị tướng La Mã vĩ đại của quá khứ xa xưa, như Scipio Africanus và Caesar, hoặc các hoàng đế như Augustus và Vespasian, có thể chưa bao giờ mơ đến: thuốc súng. Thế giới cổ đại đã gặp gỡ thế giới hiện đại. Các viên đạn đại bác đã xé toạc tường thành và, thật là thích hợp, Constantine chết ngay trận tiền mà trong tay vẫn nắm chặt thanh gươm. Đế chế của ông lúc này chỉ lớn hơn thành phố Byzantium một chút.

Đế chế La Mã, trong lớp ngụy trang cuối cùng là Đế chế Byzantine, cuối cùng đã sụp đổ, sau 2,206 năm kể từ ngày sáng lập La Mã huyền thoại.



Nghiên Cứu Lịch Sử

Võ Phương Lan

Yêu thích lịch sử và đọc sách

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Đọc Nhiều

Mới Đăng

- Quảng cáo -

Cùng Chuyên Mục
Recommended to you