Friday, November 26, 2021

Kết tinh Tiếu đàm phong vân (4): 3 cách đặt tên thời cổ đại

-


Ở kỳ 3 đã kể về việc Ngô Vương Hạp Lư để Ngũ Tử Tư quy hoạch thành Cô Tô, khiến Ngô quốc nước giàu binh mạnh. Ngũ Tử Tư được xem như đại công thần, nắm được chính trị của nước Ngô. Sau đó, Ngũ Tử Tư tiến cử Binh gia Tôn Vũ để giúp Ngô diệt Sở…

Dưới sự huấn luyện của Tôn Vũ, nước Ngô trở thành quốc gia có quân đội thiện chiến. Trải qua 5 trận chiến lớn nhỏ, cuối cùng vào năm 506 TCN, quân đội nước Ngô do Tôn Vũ lãnh binh đã chiếm được Dĩnh Đô – đô thành của nước Sở. 

Năm 522 TCN, cha và anh trai của Ngũ Tử Tư bị Sở Bình Vương giết hại. Từ năm 522 – 519 TCN, ông nương nhờ nước Trịnh 3 năm, sau đó ông đã đến nước Ngô rồi cày ruộng ở Dương Sơn trong 4 năm. Tiếp đó ông từng bước tiếp cận và phò tá Ngô Vương Hạp Lư, tiến cử Binh gia Tôn Vũ để giúp Ngô diệt Sở. Ngũ Tử Tư trải qua trăm cay nghìn đắng, ròng rã suốt 16 năm trời, từ năm 522 – 506 TCN, ông mới trả được mối thù nhà.

Sau khi nước Ngô diệt nước Sở, đại thần của nước Sở là Thân Bao Tư đã chạy qua nước Tần để nhờ Tần vương giúp Sở diệt Ngô. Tần vương đồng ý, thế là quân đội liên minh 2 nước Tần – Sở quay lại tấn công nước Ngô. Tôn Vũ phân tích rằng: nước Ngô không thể cùng lúc đánh nhau với 2 nước Tần – Sở nữa, bởi vì quân Ngô đang cảm thấy rất là tự mãn, còn bên kia một lòng liều chết báo thù. 

Quân Ngô lui binh để cho nước Sở phục quốc. Trong quá trình rút lui, Ngũ Tử Tư men theo đường ngày xưa mình trốn chạy từ nước Sở để báo đáp những người có ơn. Ngũ Tử Tư qua Lịch Dương Sơn, định tìm Đông Cao Công để trả ơn nhưng không thấy, ông đành đến chỗ ở của ân nhân sụp lạy rồi đi tiếp. Ngũ Tử Tư đến nơi cô gái giặt lụa, lấy ra 1000 lượng vàng ném xuống sông để trả ân nghĩa năm xưa người phụ nữ giặt lụa đã cưu mang ông.

Về đến nước Ngô, Hạp Lư luận công ban thưởng. Về phần mình Tôn Vũ không nhận, sau đó ông ‘công thành thân thoái’. Ngũ Tử Tư lập được chiến công hiển hách được Ngô Vương tín phục, còn công lao sự nghiệp đã đạt đến đỉnh điểm…

Ngũ Tử Tư tên thật là Ngũ Viên, tự là Tử Tư. Ngô Vương Hạp Lư sủng ái ông đến độ “gọi bằng Tử Tư (tên tự) chứ không gọi bằng tên”. Ở đây xuất hiện một số khái niệm về ‘danh’ (tên), ‘tự’ (tên tự), vậy mối quan hệ giữa ‘danh’ và ‘tự’ và cách xưng hô trong quá khứ ra sao?

3 cách dùng ‘danh’ (tên) và ‘tự’ (tên tự)

Việc xưng hô trong thời cổ đại khá phức tạp, có người xưng bằng ‘danh’, cũng có người xưng bằng ‘tự’, lại có người xưng bằng ‘hiệu’. 

‘Danh’ là cái tên mà phụ thân đặt cho đứa trẻ khi vừa mới sinh ra. ‘Danh’ thường là cấp trên gọi cấp dưới, hoặc là trưởng bối (người lớn) gọi vãn bối (thế hệ sau). Ví như Gia Cát Lượng, thì cái tên ‘Lượng’ chính là danh (tên) của ông. Ông tự xưng bằng cách nói khiêm tốn rằng: ‘Lượng tôi thế này, thế kia’. Cho nên ‘danh’ là cái tên dùng để tự xưng, là cách trưởng bối gọi vãn bối, cấp trên gọi cấp dưới. 

Thế còn ‘tự’? Ấy là khi một người trưởng thành, họ sẽ lấy một tên tự. ‘Tự’ là dùng để xưng hô giữa bạn bè, là một loại tôn xưng (cách gọi cung kính). Ví như Gia Cát Lượng có danh là ‘Lượng’ còn tự là ‘Khổng Minh’. Giữa ‘danh’ và ‘tự’ là có quan hệ, thông thường ‘tự’ dùng để giải thích cho ‘danh’, cho nên gọi là ‘biểu tự’, tức là từ dùng để biểu thị. 

Danh của Gia Cát Lượng là Lượng (亮), tự Khổng Minh (孔明). ‘Khổng’ nghĩa là to lớn, do đó ‘Khổng Minh’ nghĩa là rất sáng. Gia Cát Lượng có tự là Khổng Minh, còn Chu Du có tự là Công Cẩn, chữ Du (瑜) và Cẩn (瑾) đều là một loại ngọc. Cách dùng ‘danh’ và ‘tự’ này được gọi là ‘đồng nghĩa lặp lại‘. 

Bên cạnh đó còn có một loại phương thức đặt tên tự nữa, đó là khi ‘tự’ trái ngược với ‘danh’, gọi là ‘phản nghĩa đối lập’. Ví dụ như vào triều Tống có một nhà Nho lớn tên là Chu Hi, tự là Nguyên Hối. Chữ Hi (熹) nghĩa là ánh lửa, còn chữ Hối (晦) trong tên tự của ông có nghĩa là lờ mờ tối, không sáng rõ. 

Một học trò xuất sắc của Khổng Tử là Tăng Tử, con trai của Tăng Điểm. 

Tăng Điểm là cha của một trong những học trò xuất sắc của Khổng Tử, tức Tăng Sâm. Chữ Điểm (點) trong Tăng Điểm, có nghĩa là hơi đen một chút, thứ gì đó hơi đen gọi là ‘điểm’, còn tên tự của Tăng Điểm là Tử Tích. Ở đây, Tích (皙) nghĩa là rất trắng sáng. Cách dùng ‘danh’ và ‘tự’ này gọi là ‘phản nghĩa đối lập‘.

Ngoài ra còn một loại cách thức đặt tên tự nữa gọi là ‘liên tưởng’. Ví như nhà thơ lớn thời Tống có danh (tên) là Tô Thức, tự là Tử Chiêm. Chữ Thức (軾) là chỉ chiếc đòn ngang phía trước của xe, còn chữ Chiêm (瞻) nghĩa là nhìn. Bình thường người ta phải vịn đòn ngang để lên xe, đồng thời phải nhìn về phía trước, cho nên tự Tử Chiêm cũng có mối liên hệ với cái tên Tô Thức. Do đó cách dùng ‘danh’ và ‘tự’ này gọi là ‘liên tưởng‘. 

Từ ‘danh’ và ‘tự’, chúng ta cũng có thể suy luận ra tên gọi và tên tự của một người đọc là gì. Ví dụ như con trai của Lưu Bị là 劉禪, có thể gọi Lưu Thiện hoặc Lưu Thiền, bởi chữ 禪có hai âm đọc là Thiện và Thiền. Vậy rốt cuộc nên gọi tên ông như thế nào, Lưu Thiện hay Lưu Thiền? 

Nếu đối chiếu với tên tự, bạn sẽ thấy tự của ông là Công Tự. Chữ Tự (嗣) là kế thừa, còn chữ Thiện (禪) là thiện nhượng (禪讓), tức nhường ngôi. Cho nên, từ tên tự có thể suy ra tên gọi của ông là Lưu Thiện chứ không phải Lưu Thiền.

Trên cơ bản giữa ‘danh’ và ‘tự’ có 3 cách dùng là:

+ Đồng nghĩa lặp lại.

+ Phản nghĩa đối lập.

+ Liên tưởng.

Từ những khái niệm cơ bản này ta có thể đoán được ‘danh’ và ‘tự’ của một người thuộc loại nào. Ở kỳ 1, khi đề cập đến tên loạt bài ‘Tiếu đàm phong vân’, thì ‘tiếu đàm’ lấy từ bài ‘Lâm giang tiên’ của Dương Thận (Cổ kim đa thiểu sự / Đô phó tiếu đàm trung), còn ‘phong vân’ lấy từ một câu của Kinh Dịch là: “Vân tùng long, phong tùng hổ” nghĩa là: mây theo rồng, gió theo hổ. 

Như chúng ta đã biết, một trong Ngũ hổ tướng của Lưu Bị là Triệu Vân, tự là Tử Long. Sau khi nắm rõ cách đặt tên và tự, chúng ta có thể đoán rằng cách dùng ‘danh’ và ‘tự’ Vân – Long thuộc về ‘liên tưởng’.

Ở một ví dụ khác, danh tướng thời Nam Tống – Nhạc Phi có tên là Phi, tự là Bằng Cử. Phi (飛) có nghĩa là bay, còn Bằng Cử (鵬舉) có nghĩa là đại bàng cất cánh. Do đó cách dùng ‘danh’ và ‘tự’ Phi – Bằng Cử cũng thuộc về ‘liên tưởng’. 

Còn như hoạ sĩ triều Minh là Đường Dần có tự là Tử Uý hoặc Bá Hổ. Vì ông sinh vào giờ Dần, ngày Dần, tháng Dần, năm Dần, nên phụ thân ông mới đặt là Đường Dần. Khi nhìn thấy cách dùng ‘danh’ và ‘tự’ Dần – Bá Hổ, chúng ta có thể đoán ngay đây là ‘đồng nghĩa lặp lại’.

Quay trở lại câu chuyện của chúng ta, Ngô Vương Hạp Lư tôn trọng Ngũ Tử Tư đến mức “gọi bằng Tử Tư (tên tự) chứ không gọi bằng tên”, tức gọi ông là Tử Tư mà không là Ngũ Viên. Qua đó thấy được rằng, Ngô Vương Hạp Lư lấy quan hệ bạn bè để xưng hô với Ngũ Tử Tư, chứ không lấy quan hệ giữa quân vương – đại thần để gọi ông. Đây là một loại ân sủng của Ngô Vương Hạp Lư đối với công thần Ngũ Tử Tư.

Từ năm 522 TCN đến năm 506 TCN, Ngũ Tử Tư phải trải qua 16 năm ròng rã, chịu không biết bao nhiêu cay đắng mới trả được thù nhà, nhưng có người phải trải qua 21 năm mới trả được. 

Khi Nguyễn Trãi tả về Lê Lợi có viết như thế này:

“Ta đây:
Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối”…

Thì điển cố ‘nếm mật nằm gai’ là kể về câu chuyện của Việt Vương Câu Tiễn, phải nhẫn chịu 21 năm mới trả được thù, trong đó có 15 năm ‘nếm mật nằm gai’.

Vậy Việt Vương Câu Tiễn là người như thế nào, bối cảnh và chi tiết của điển cố trên ra sao, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo… 

– Còn nữa…

Mạn Vũ



DKN.TV

Tùng
Tin vịt trên internet nhiều quá.
Có những thứ mình muốn, và cũng có những thứ mình cần. Những thứ mình cần quan trọng hơn.
Chúc mọi người có một ngày tốt lành.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Đọc Nhiều

Mới Đăng

- Quảng cáo -

Cùng Chuyên Mục
Recommended to you