Sunday, July 3, 2022

Thiên cổ anh hùng Tưởng Giới Thạch (12): Trì hoãn chiến tranh

-

  • Tiếp theo Kỳ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11

Năm 1932, trong một bài diễn thuyết tại trường sĩ quan lục quân, Tưởng Giới Thạch đã đưa ra lời tiên đoán như sau: “Theo quan điểm của tôi, vào năm 1936 dương lịch,… có lẽ chiến tranh thế giới thứ hai sẽ bắt đầu khởi phát”. “…Thời điểm trận đại chiến này nổ ra cũng là khoảnh khắc đánh dấu bước ngoặt tồn vong sinh tử của Trung Quốc chúng ta” (“Đường lối phục hưng Trung Quốc”, 1932).

Sau thời kỳ Bắc phạt, Tưởng Giới Thạch đã ngay lập tức mời các cố vấn quân sự từ nước Đức sang Trung Hoa để trợ giúp cho công tác huấn luyện đào tạo quân đội, thiết lập ngành công nghiệp quân sự, soạn thảo chiến lược quốc phòng, thậm chí lên kế hoạch diễn tập xử lý các tình huống trong chiến tranh. Đô đốc Falkenhausen – người cuối cùng đảm nhiệm chức vụ Trưởng đoàn cố vấn, trước khi rời đi đã hết lòng hỗ trợ Tưởng Công xây dựng chiến lược kháng Nhật, đồng thời cũng tham chiến trong trận đánh Tùng Hỗ và chiến dịch Đài Nhi Trang.

Trong “Thập kỷ vàng” kể từ khi Bắc phạt thành công đến kháng chiến chống Nhật, nền kinh tế Trung Quốc đã đạt được những bước tiến vượt bậc. Tưởng Công trong bài “Vận mệnh của Trung Quốc” đã nêu rõ: “Trong thập kỷ này, chính phủ Quốc Dân đã nuốt giận nén hờn, dù run rẩy sợ hãi trong tình thế “được bữa sớm lo bữa tối”, vô cùng cấp bách, nguy nan, song vẫn nỗ lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, từng bước điều tiết giảm dần kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng, tạo đà thúc đẩy gia tăng kim ngạch nhập khẩu công cụ cơ giới máy móc, qua đó đủ để cho thấy sự tiến bộ của ngành nông nghiệp công nghiệp và khai thác mỏ trong nước. Trong những thành tựu vinh hiển này thì đáng chú ý nhất, đặc biệt nhất là sự tiến bộ trong ngành giao thông vận tải và chính sách tài chính”. “Cuộc kháng chiến chống Nhật của chúng ta hôm nay, phải sử dụng sức mạnh quân đội và kinh tế thì mới có thể vượt lên đứng ở vị trí bất khả chiến bại, thực tế cũng cho thấy cần phụ thuộc vào những yếu tố này”. 

Tình thế khó khăn của kinh tế và quân đội Trung Quốc

Tuy nhiên, theo thống kê năm 1937, tổng sản lượng công nghiệp của Nhật Bản gấp 4,5 lần Trung Quốc (6 tỷ USD so với 1,4 tỷ USD), tổng sản lượng sắt thép gấp 145 lần (5,8 triệu tấn so với 40 nghìn tấn), tổng sản lượng than đá gấp 4 lần (50,7 triệu tấn so với 12,6 triệu tấn), sản lượng dầu thô gấp 130 lần (1,69 triệu tấn so với 13,1 nghìn tấn) và sản lượng đồng gấp 125 lần (87 nghìn tấn so với 700 tấn). Quân đội Nhật Bản mỗi năm còn có khả năng sản xuất 1.580 chiếc máy bay, 744 khẩu pháo hạng nặng, 330 chiếc xe tăng, 9.500 xe ô tô, đồng thời có công suất đóng tàu thủy là 470.000 tấn và chiến hạm là 60.000 tấn, trong khi đó Trung Quốc không có khả năng sản xuất vũ khí hạng nặng. Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự Hoa Kỳ vào thời điểm đó, sư đoàn loại A của Nhật Bản có hỏa lực tương đương gấp khoảng 3 – 4 lần số lượng quân đội Trung ương, và ít nhất cũng gấp 6 lần so với số lượng binh sĩ hỗn tạp từ các thế lực quân phiệt địa phương [của Trung Quốc].

Theo như lời tướng lĩnh Quốc quân Tôn Nguyên Lương, người từng tham gia hội chiến Tùng Hỗ năm ấy hồi tưởng lại:

“Mỗi một sư đoàn của quân đội Nhật Bản có hơn 5.000 con ngựa, 500 xe ô tô, mỗi binh sĩ được trang bị một khẩu súng trường; Ngược lại mỗi sư đoàn Quốc quân chỉ có 3.800 khẩu súng trường, không có xe tăng, cũng không có sự phối hợp hành động trong chiến đấu giữa bộ binh và không quân, đại đa số các sư đoàn đều không có đại pháo. Binh lính khắp nơi của chúng ta phải đến khi nhìn thấy xe tăng của quân địch trên chiến trường thì mới biết rằng trên thế giới có tồn tại loại vũ khí kiểu mới này.

“Chiến sự vừa mới bắt đầu đã phát sinh những thiếu thốn trầm trọng về lực lượng y bác sĩ và dược phẩm để chăm sóc điều trị cho các thương binh, binh lực huy động trên cả nước được 300 đến 500 vạn quân, tuy nhiên chỉ có một trăm vạn khẩu súng trường, khó khăn hơn nữa là 300 tấn nguyên liệu chế tạo binh khí đạn dược mà xưởng chế tạo vũ khí cần dùng đến mỗi tháng cũng phải phụ thuộc vào nguồn hàng nhập khẩu từ Hoa Kỳ thông qua vận tải hàng không, số lượng đạn sản xuất ra hạn chế, chia bình quân mỗi binh lính được 4 lần bắn, đã bao gồm cả viên đạn bên trong khẩu súng.

“Khi Tướng Stilwell nhậm chức Tùy viên quân sự Hoa Kỳ đóng trụ sở tại Trung Quốc, ông đã từng đích thân gặp gỡ một trung đoàn Quốc quân trong chiến dịch Đức An ở Giang Tây năm 1938, toàn bộ trung đoàn chỉ có bốn khẩu súng máy hạng nhẹ (trong khi theo cơ cấu phải có 100 khẩu), mỗi khẩu súng có 200 viên đạn, sẽ bắn hết trong vòng mười phút. Trung đoàn này và quân đội Nhật Bản đã kịch liệt giao chiến suốt hai ngày đêm, sáu trăm người đã hy sinh, năm trăm người bị thương, số còn lại bốn trăm người phụng mệnh rút quân. Sau khi chiến tranh Hàn Quốc bùng nổ, tôi ở lại Nhật Bản kinh doanh trong nhiều năm, đọc nhiều tài liệu và tìm hiểu lịch sử chiến tranh của quân đội Nhật Bản, họ ghi lại rằng thi thể của các binh sĩ Quốc quân bị bỏ lại khắp nơi trên chiến trường gấp 20 lần so với số người tử vong của quân đội Nhật Bản.

“Đối mặt với tham vọng bành trướng của Nhật Bản, thái độ của người Trung Quốc có xu hướng thiên về hai thái cực đối lập: “Một mặt sa sút tinh thần, mong cầu an toàn tạm bợ dưới trướng áp bức của quân xâm lược Nhật Bản, đề xướng hòa hoãn không tiến hành chiến tranh. Trên phương diện còn lại thì điên cuồng kích động, phụ thuộc, cậy nhờ sự can thiệp của các thế lực nước ngoài để kìm hãm hỗn loạn trong nước, chủ trương phát động chiến tranh. Họ thực sự đã quên bài học bài học đàm phán hòa bình thời cuối nhà Tống, đưa dân tộc hãm vào thế nguy vong. Họ cũng không biết việc thúc đẩy chiến tranh vào cuối thời Minh, khiến binh lực chịu nhiều tổn thất, thậm chí không thể thoát khỏi thất bại trong cuộc vãn hồi thảm cảnh đất nước diệt vong” (Vận mệnh của Trung Quốc).

Tưởng Giới Thạch cổ vũ người dân Trung Quốc

Tưởng Giới Thạch lên tiếng khích lệ người dân Trung Quốc: “Hiện nay trên thế giới chỉ có ba quốc gia có đầy đủ điều kiện, có tư cách của một quốc gia độc lập, một là Trung Quốc của chúng ta, ngoài ra có Hoa Kỳ và thứ ba là nước Nga… mà trong ba quốc gia này thì Trung Quốc chúng ta có mật độ dân số lớn nhất, cho nên nếu Trung Quốc thật sự có thể thống nhất một lòng, tự lực tự cường vươn lên, thì không những không có một quốc gia nào dám cả gan xâm lược, mà hơn thế nữa sẽ không có một quốc gia nào dám phô bày thái độ không tôn trọng Trung Quốc” (“Tuần lễ tưởng niệm Thủ tướng tại trường quân đội ngày 02/05/1932”).

Năm 1934, Tưởng Giới Thạch trong một bài giảng với đoàn huấn luyện sĩ quan Lư Sơn đã phát biểu rằng:

“Khi tôi ở Nhật Bản, tôi thường hay cùng các sĩ quan Nhật bàn luận về các vấn đề chính trị quốc tế, họ thành thật nói với tôi rằng: ‘Hiệp ước cũng chỉ là một trang giấy, dù một vết xé nhỏ cũng có thể làm rách hỏng hết cả’. Qua đó cho thấy họ từ trước đến nay không hề coi trọng tín nghĩa, điều này phản ánh một thực tế rằng bất kỳ hiệp ước nào cũng vô dụng, họ luôn vạch rõ chủ trương cường quyền, sùng bái vũ lực, luôn sẵn sàng chuẩn bị tư thế chiến đấu với các quốc gia đối địch”.

“Hồi tưởng lại Trung Hoa Dân quốc 15 năm về trước, Điền Trung – một đại tướng Nhật Bản đã từng tiên đoán rằng, Quốc dân cách mạng quân của chúng ta nhất định trong vòng nửa năm sẽ tự giết hại tương tàn lẫn nhau, dẫn đến thất bại là hậu quả tất yếu”. Người Nhật Bản “từ cổ chí kim đã luôn dự liệu rằng quân nhân Trung Quốc chúng ta là không có tiền đồ”. “Cần phải cho họ biết rằng chúng ta là đồng bào dân tộc Trung Hoa, thuộc dòng dõi đế vương, có một loại thiên chất đặc biệt ưu tú, bất kể gặp khó khăn gì, nguy hiểm gì, bất luận vấn đề đó nghiêm trọng ra sao, kẻ thù hùng mạnh như thế nào, chúng ta nhất định sẽ tìm ra phương pháp đánh bại hắn” (Chống ngoại xâm và phục hưng dân tộc, 1934).

Tháng 1 năm 1936, trong bài thuyết giảng tại xã Lệ Chí, Nam Kinh, Tưởng Giới Thạch đã vạch trần chiến lược xâm lăng của Nhật Bản:

“Trong nội bộ người Nhật Bản không ngại nói một cách công khai rằng thông qua việc đánh bại Tưởng Giới Thạch, tiêu diệt Quốc Dân đảng thì Trung Quốc nhất định sẽ tan rã, chia năm xẻ bảy, lâm vào tình thế cực kỳ hỗn loạn. Vậy Nhật Bản vì cớ gì mà coi Quốc Dân đảng và Tưởng Giới Thạch tôi là cái đinh trong mắt như vậy? …

“Nguyên nhân gốc rễ thực chất bên trong chính là Nhật Bản có chính sách truyền thống xâm lược Trung Quốc, còn Quốc Dân đảng của chúng ta cũng có một chính sách truyền thống là giải cứu Trung Quốc, hai chính sách truyền thống này trớ trêu thay lại đối đầu gay gắt và không khoan nhượng lẫn nhau, hoàn toàn xung đột, đối nghịch.

“Họ không coi người Trung Quốc là nhân chủng bình thường, cũng không coi Trung Quốc là một quốc gia, họ nhìn thấu được rằng Trung Quốc mặc dù có 400 triệu người, nhưng trên thực tế thì giống như không có người;… Họ cho rằng Đảng Cách mạng tuyệt đối không tìm ra được phương cách nào có thể vực dậy đất nước, lời tuyên thệ trước khi xuất binh Bắc phạt, quả thực chỉ là trò cười mà thôi.

“Sau khi quân đội Cách mạng của chúng ta mang khí thế ngút trời tiến đánh Vũ Hán, chiếm lĩnh Nam Kinh Thượng Hải, họ đã vô cùng sửng sốt, kinh ngạc, không lý giải được tại sao Đảng Cách mạng lại có thể bỗng nhiên xoay chuyển cục diện một cách dễ dàng như “bẻ cành khô, đẽo gỗ mục”, từ Quảng Đông có thể tấn công vào lưu vực sông Trường Giang!” (“Đạo lý quan trọng về việc chính phủ và nhân dân đồng lòng cứu nước, 1936) 

“Trước tháng 6 năm ngoái, đất nước chúng ta có thể nói là không có nền tảng cơ sở, tình thế hết sức bấp bênh, nan giải. Nhật Bản chỉ cần trong vòng một tháng là có thể khiến toàn bộ Trung Quốc diệt vong! Nhưng từ sau tháng 6 năm ngoái trở đi, bởi vì chúng ta đã thống nhất được ba tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Quế Châu nên cuối cùng đất nước đã thiết lập được cơ sở nền tảng sinh tồn vững chắc, từ nay về sau từng bước dần dần ổn định!” (“Đạo lý trọng yếu về việc chính phủ và nhân dân đồng lòng cứu nước”, 1936).

Tưởng Giới Thạch đã phân tích cho người Trung Quốc rằng Đại Tây Nam là vùng đất giành lại được thông qua cuộc kháng chiến liều mình quyết tử của Trung Quốc, là vùng đất trù phú sẽ khống chế và đánh bại quân địch. Những sự kiện sau này chính là minh chứng rõ nhất xác nhận những lời diễn thuyết và phân tích này của ông là hoàn toàn đúng đắn.

Chuẩn bị cho tương lai

Trong nhật ký ngày 21 tháng 8 năm 1935, Tưởng công đã dự đoán viễn cảnh tương lai của mối quan hệ Nhật Bản – Trung Quốc như sau: “(1) Ôm giữ quan điểm không cần chiến đấu mà Trung Quốc đã chịu đầu hàng khuất phục. (2) Đối với Trung Quốc chỉ có thể uy hiếp, đe dọa phân tách chia rẽ, tạo ra những tên thổ phỉ, Hán gian để quấy rối gây nhiễu loạn, mà không sử dụng vũ lực để chinh phục Trung Quốc. (3) Đến bước cuối cùng sẽ sử dụng binh lính để tiến hành công kích. (4) Trung Quốc kháng cự. (5) Chịu sự can thiệp, quấy rối từ bối cảnh quốc tế mà dẫn đến chiến tranh thế giới. (6) Oa quốc nội chiến bởi các cuộc cách mạng. (7) Nhật Bản sẽ thất bại trong vòng mười năm”. Ngoại trừ điều 6, tất cả những mục còn lại đều đã diễn ra như trong dự ngôn của ông!

Đến tháng 11 năm 1935, Tưởng công tuyên bố tại đại hội toàn thể lần thứ năm của Quốc Dân đảng: “Hòa bình chưa đến giai đoạn tuyệt vọng hoàn toàn, quyết không từ bỏ chủ trương hòa bình, hi sinh cũng chưa đến giây phút cuối cùng, quyết không coi nhẹ giá trị của hi sinh”. Mục tiêu của Tưởng Giới Thạch chính là trì hoãn sự bùng nổ chiến tranh, tranh thủ thời gian, chuẩn bị tốt nhất cho bước ngoặt tồn vong cuối cùng và nắm bắt đón đầu được thời cơ phía trước.

  • Xem trọn bộ Thiên cổ anh hùng

Theo Epoch Times
Minh Ngọc biên dịch



DKN.TV

Phát Bùi
Phát Bùi
Sáng đi làm.
Chiều đi học.
Tối làm homework.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Đọc Nhiều

Mới Đăng

- Quảng cáo -

Cùng Chuyên Mục
Recommended to you