Wednesday, October 5, 2022

Chuyện thánh hiền – Quý Trát “treo gươm” và lời hứa ngàn vàng ‘huynh chung đệ cập’

-

Nước Ngô thời kỳ Xuân Thu có một vị công tử tên Quý Trát. Bởi vì được vua phong tước cho ở tại Diên Lăng, cho nên người đời gọi ông là Quý Tử Diên Lăng. Quý Trát là nhân vật thánh hiền rất có tầm ảnh hưởng ở Trung Quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc. Ông đã từng với Khổng Tử đồng xưng “Nam Quý Bắc Khổng”, trên Bắc có Khổng Tử thì dưới Nam có Quý Trát. Con người Quý Trát thể hiện những phẩm chất ưu tú, sự hài hòa, thành thật, lễ nhượng và có tầm nhìn xa trông rộng; và điều đó đã dung nhập vào trong văn hóa dân tộc Trung Hoa.

Quay ngược dòng lịch sử, vùng Giang Nam nước Ngô là do thủ lĩnh bộ tộc họ Chu đời thứ 13 là Chu Vương, cùng gia tộc chư hầu họ Cơ kiến lập. Dựa theo ghi chép ‘Sử ký Ngô Thái Bá thế gia’, tương truyền Công Đản Phủ Chu Thái Vương sinh xuất được ba người con, trai trưởng tên Thái Bá, trai thứ là Trọng Ung và trai út gọi Quý Lịch. Thủ lĩnh đời thứ 14 tên thật là Cơ Lịch, vì là con út nên gọi Quý Lịch, Lịch lấy Thái Nhâm làm vợ và sinh ra Cơ Xương – xưng hiệu Chu Văn Vương sau này – là một quý tử cực kỳ thông minh. Công Đản Phụ hết sức quý mến nên định lòng truyền ngôi cho cha cậu là Quý Lịch, nhằm một ngày nào đó có thể nhượng lại cho cháu trai Cơ Xương kế vị. Nhưng theo lễ pháp đương thời, theo lý phải truyền ngôi cho con trai trưởng; do đó Công Đản Phụ rất là hao tâm tổn trí. 

Thái Bá là một nhà hiền triết có tầm ảnh hưởng trong thời Xuân Thu ở Trung Quốc (Ảnh: do chuyên mục Cổ và Hiện đại Văn hóa Tân Đường cung cấp)

Sau khi Thái Bá thông tỏ ý nghĩ của phụ thân, thừa dịp liền cùng nhị đệ Trọng Ung mượn cớ ra ngoài hái thuốc, rồi rời quê nhà đi tới vùng đất Giang Nam, nơi người Kinh man sinh sống, tự thân gây dựng cơ nghiệp. Thái Bá và Trọng Ung đồng ý theo tục lệ của bộ tộc bản địa, cắt tóc xăm mình và rất nhanh dung nhập vào bộ tộc xã hội. Hai người họ đã mang những kỹ thuật nông canh tân tiến của vùng Trung Nguyên tới nơi bản xứ, ngay sau đó hơn trăm ngàn bộ tộc lớn nhỏ tại bản địa cũng tự nguyện sáp nhập, quy thuận về Thái Bá. Chính từ ấy, Thái Bá là người đặt nền móng sáng lập nước Ngô.

Thời đầu, nước Ngô không hề tôn quý văn minh Trung Nguyên, không biết Chu lễ – bộ sách ghi chép những tập tục lễ nghi đời Chu, còn mặc phanh ngực hở lưng và phong tục trổ mặt xăm mình; cho nên bị các nước chư hầu Trung Nguyên xưng là ‘man di’ và bài xích.

Nhưng đến khi Thọ Mộng trị vì Ngô vương – Ngô Thọ Mộng là vị vua thứ 19 của nước Ngô; lúc này có một vị đại phu lưu vong nước Sở tên Thân Công Vu Thần, ông tự đi sứ đến nước Ngô; dạy người nước Ngô cách ăn vận phục sức của Trung Nguyên, phong tục lễ nghi và thuật dụng binh sử dụng chiến xa; giúp nước Ngô trở nên cường thịnh. Kể từ đó, nước Ngô sớm cùng các nước Trung Nguyên quan hệ qua lại chính thường. Ngô Vương Thọ Mộng có bốn người con trai là Chư Phàn, Dư Tế, Di Mạt và Quý Trát. Cậu bé Quý Trát nhỏ nhất mà lại là người hiền đức nhất. Lúc Thọ Mộng hấp hối, muốn lập Quý Trát làm vua, nhưng Quý Trát kiên từ không nhận. Thọ Mộng đành chịu, bèn lập Chư Phàn tạm thay trị nước; đồng thời ước định ‘huynh chung đệ cập’, tức anh chết thì em trai kế thừa, nhất định phải trao vương vị cho Quý Trát.

Không lâu sau, Quý Trát trở thành sứ giả nước Ngô làm quan ngoại giao. Năng lực ngoại giao của ông cực kỳ xuất chúng; cùng khả năng bình luận, giám định và thưởng thức âm nhạc vô cùng trác tuyệt, có thể nói là hóa thân của lễ nhạc. Trung Quốc là bang lễ nhạc, một lần nọ ông thay mặt nước Ngô nhận sứ mệnh ngoại giao nước Lỗ; do cung đình nước Lỗ bảo tồn và cất giữ được toàn bộ lễ nhạc của vua chúa nhà Chu, nên Quý Trát ngỏ ý muốn thưởng thức một chút âm nhạc cung đình đại Chu. 

Ji Zha kinh ngạc trước sự chuyển động ngoạn mục của đức cao vọng trọng (Ảnh: Lịch sự của chuyên mục Cổ và Hiện đại của NTDTV)

Trát công tử được nhạc công nước Lỗ diễn hát các loại âm nhạc và đủ loại vũ điệu. Đang lúc nghe đến ca khúc đất “Đường”, ông thẩm được suy nghĩ thâm thúy của di phong Đào Đường thị; nghe khúc “Đại nhã” tựa như cảm thụ được phong nhã hiền đức của Văn Vương; mà khi vang lên ca khúc đất “Ngụy” thì chí hướng minh chủ “đại nhi khoan, kiểm nhi vị” – to lớn mà khoan dung, cần kiệm mà nhã nhặn; chiếu rọi chiêu lấy đức phụ trợ đạo hạnh cũng như công phu tu luyện của việc dạy văn đức. Đến lúc khởi lên điệu múa “Chiêu sao”, Quý Trát kinh ngạc tán thán: “Chương nhạc chí đức như vậy khiến người ta xem thế là đủ rồi, dường như trời xanh không khỏi bao trùm, như đất đai chẳng gì không nâng đỡ, như thịnh đức vô cùng tột đỉnh. Ý chính là đức hạnh mà tốt, cũng sẽ không ví ca vũ này tượng trưng cho mỹ đức cao hơn vua Thuấn nữa, vân vân và vân vân, còn có rất nhiều ẩn tích”. Bằng vào lực cảm thụ thâm mật cùng học thức uyên bác; ông dạy thấu tích lễ nhạc sâu xa uẩn hàm, và thế thịnh suy của triều Chu lúc ‘ngữ kinh tứ toạ’ khiến cho mọi người lấm lét. Đây là âm nhạc sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc, văn học cùng mỹ học tranh luận mấy ngàn năm đến nay vẫn xuất hiện đồn đại. 

Kết hợp tài ăn nói của ông và lĩnh hội năng lực làm xao động tâm tư mọi người. Nhân cơ hội này, Quý Trát bày tỏ nước Ngô mong hữu hảo các nước Trung Nguyên cùng lai vãng, quả là rất nhiều quốc gia nguyện ý cùng nước Ngô giao hảo. Chuyến đi sứ này, Quý Trát còn được quảng giao với hiền sĩ thiên hạ, âu cũng là để mở rộng văn hóa Trung Hoa và khuếch trương ảnh hưởng lớn tạo ra cống hiến cho Chu gia.

Trát công tử vốn trọng tín nghĩa, hoàn toàn xứng danh tài đức vẹn toàn. Câu chuyện Quý Trát treo gươm được quảng truyền đến nay. Tại vùng Tuyền Sơn thuộc thành phố Từ Châu ngày nay, trên chân núi Vân Long có một khối đá xanh to lớn, trên bia có khắc ‘tam đại tự’ – ba chữ to là ” Qua Kiếm Đài”, có nghĩa là đài treo kiếm. Hai bên tấm bia còn có khảm một bộ câu đối ngợi ca Trát công tử nước Ngô không quên lời hứa của bản thân mình. Vế trên và vế dưới lần lượt đề:

“Diên Lăng Quý Tử hề bất vong cố
Thoát thiên kim kiếm hề quải khâu mộ.” 

Tạm dịch nghĩa: 

“Trát công tử ở Diên Lăng không quên chuyện xưa
Cởi bỏ bảo kiếm đáng giá ngàn vàng dâng lên mộ phần.”

Đây chính là đài Quý Tử treo gươm nổi tiếng trong lịch sử. Truyền rằng, sau khi Ngô Vương Dư Tải trị vì 4 năm xuân kỳ, Dư Tải cử tứ đệ Quý Trát ra thăm các nước, Quý Trát đi tham quan đồ kinh nước Từ, bởi thanh danh tại ngoại của Quý Trát được vua nước Từ hết mực khoản đãi niềm nở. Vào dịp yến hội, Từ quốc vương nhìn thấy ông treo bội kiếm ở bên hông thì vô cùng mến mộ.

Bấy giờ, hai nước Ngô – Việt chế tạo bảo kiếm đều là báu vật hiếm. Mà thanh bảo kiếm này của Diên Lăng Quý Tử được chế tác rất tinh xảo, ‘mỹ luân mỹ hoán’, lộng lẫy đắc ý, sắc bén không gì sánh được; độc nhất vô nhị. Quốc vương nước Từ liếc một cái ánh mắt trực câu câu nhìn kiếm báu của Quý Tử, quyến luyến không muốn rời xa, khổ nỗi không dám ngỏ lời. Quý Tử thấu tỏ hết thảy tâm tình, thầm nghĩ bụng, mình đi sứ quốc sự các nước, thân là sứ thần mà không có bảo kiếm trong người thì không hợp lễ nghi, ngay đây cũng chưa có bảo kiếm để biếu tặng quốc vương, nhưng trong lòng ông tự khi nào đã ngầm bằng lòng đưa tặng cho đối phương rồi. Thế là ông tự hứa, đợi sau khi xong nhiệm vụ đi tham quan những quốc gia khác, rồi trở lại nước Từ thì lập tức tặng bảo kiếm cho Từ Quốc Công.

Đúng là thế sự vô thường, tới khi mùa thu đến, trên đường đi sứ về lại lần nữa đi ngang qua nước Từ, thì hay quốc vương nước Từ đã bị bệnh mà qua đời rồi. Quý Tử nghe tin sau đó vô cùng thương xót, ngay tức thì gỡ bội kiếm xuống định đưa cho vị vua đương nhiệm nước Từ. Tùy tùng của Quý Tử vội vàng khuyên can: 

– Kiếm này nguyên vốn là vật báu nước Ngô, không thể lấy làm lễ vật tặng người. 

Quý Tử ôn tồn đáp:

– Không phải ta tặng vị ấy. Trước đây, ta từng qua nước Từ, vua Từ hết sức yêu thích thanh bảo kiếm này, vốn định giúp người liễu nguyện, chỉ vì ta đảm nhiệm đi sứ nên ước vọng nhà vua hãy còn chưa thành, không cách nào khác nên tặng cho quốc vương. Mặc dù không cùng ông ấy hứa hẹn bất kỳ điều gì cả, nhưng tâm ý ta đã thầm định phải đưa bảo kiếm cho ngài. Hiện quốc vương đã qua đời, mà ta vẫn còn tại đây, với lại từ tận đáy lòng ta hồi đó đã hứa tặng. Nếu như ta không tặng bảo kiếm, thì đúng là lừa gạt lương tâm chính ta. Vì trọng bảo kiếm mà bội với lòng mình quả không xứng, người chính trực sẽ không làm như vậy.

Thế nên ông đã gỡ bảo kiếm trên lưng xuống và đưa cho ông vua kế vị. Quốc vương kế vị tiếp lời: 

– Tiên vương ra đi không để lại di mệnh, ta không dám tiếp nhận bảo kiếm này.

Ji Zi treo thanh kiếm trên cây bên cạnh mộ Xu Guoguo rồi bỏ đi (Ảnh: chuyên mục Cổ và Hiện đại của NTDTV cung cấp)

Rồi Quý Tử bèn treo thanh bảo kiếm ở trên cây bên phần mộ của vua Từ, xong liền rời đi. Hậu thế đã lấy ‘câu chuyện Quý Trát và lời hứa ngàn vàng’ để ca tụng, lưu truyền mãi về sau.

Sau cái chết của Ngô Vương Thọ Mộng, lão đại Chư Phàn lập tức nhường ngôi cho Tứ đệ, và bảo: “Đây là di chí của phụ vương, mong đệ tiếp nhận.”

Quý Trát đáp:

– Lúc phụ vương còn sống, đệ không muốn đứng hàng đông cung, khi phụ vương chầu trời, đệ làm sao có thể đoạt vương vị huynh trưởng chứ? Nếu huynh ép đệ nữa, thì đệ buộc lòng phải lánh sang nước khác. 

Chư Phàn không tài nào lay chuyển được Quý Trát, đành phải kế vị theo lệnh cha. Điều khiến cho Ngô Vương Chư Phàn đắn đo là: ‘Nếu như mình sống đến già mới chết, anh em cứ theo thứ tự truyền ngôi lại truyền tới truyền lui, khi nào Tứ đệ mới có thể kế vị? Mình phải nghĩ biện pháp khác’. Vậy là Chư Phàn tự mình dẫn đầu quân Ngô tấn công nước Sở và chết trận trên chiến trường. Các đại thần chiếu theo di nguyện của Thọ Mộng, lập lão nhị Dư Sái kế vị Ngô vương. Dư Sái hiểu rõ tâm ý huynh trưởng, mà rằng: “Huynh trưởng chết trận, vì là để phải đem vương vị mau sớm truyền cho Quý Trát”. Sái cũng tự mình dẫn quân đi tấn công nước Việt, tuy đánh thắng trận nhưng bản thân lại để cho tù binh nước Việt đâm chết.

Tam công tử Di Mạt theo thứ tự sẽ đương lập vương vị, Mạt cũng không chịu nối ngôi, kiên quyết nhường ngôi cho Quý Trát. Trát công tử dẫu có chết cũng không đồng ý, Di Mạt không thể làm gì khác hơn là tự nhận vương vị vua Ngô. Sau này, Ngô Vương Di Mạt thân mắc trọng bệnh, và chết trong lúc Quý Trát đang phụng mệnh đi sứ nước Tấn. Con trai Di Mạt là Liêu liền thừa cơ kế tục quân vị. Đến khi Quý Trát hoàn tất chuyến đi sứ và trở về nước Ngô, vẫn để cho Ngô Vương Liêu tự thân cai quản quân vương. Lúc này con trai huynh trưởng Chư Phàn là công tử Quang lại mười phần bất mãn, tự nhủ: “Phụ thân không truyền ngôi cho ta mà lần lượt để các chú kế vị, cũng bởi chờ một ngày nào đó truyền ngôi cho chú Trát. Nếu tuân theo di chúc của tiên vương, cần nhượng Quý Tử tôn làm vương, Tứ thúc nếu lên ngôi vua, ta không có gì đáng để nói; nếu mà không tuân theo di chúc của tiên vương, phải đến phiên công tử Quang ta làm vua mới đúng, lẽ nào đến phiên kẻ Cơ Liêu đó chứ?”. Vì vậy, công tử Quang đã phụ tá Ngũ Tử Tư hạ tìm thích khách là Chuyên Chư nhằm ám sát Liêu, ngay trong yến hội Quảng dùng đoản kiếm trong cơn cá nướng mang dâng rồi rút kiếm đâm Ngô Vương Liêu.

Sau khi công tử Quang lần nữa đem ngôi quốc vương đưa tặng cho người chú Quý Trát, đương nhiên là Trát không nhận. Ông nói:

– Ngươi giết quân vương nước Ngô, nếu mà ta bằng lòng nhận quân vị nhà ngươi cho, đó chẳng phải là thành kẻ hành thích vua soán vị giống như ngươi sao? Vì tranh đoạt vương quyền mà cha con huynh đệ tương tàn, đến khi nào mới có thể là một người đứng đầu đây? 

Dứt lời, Quý Tử lập tức rời khỏi thủ đô đi đến vùng Diên Lăng cư trú, sau đó cả đời ông không quay trở về cung đình nước Ngô nữa. Suốt cuộc đời Quý Trát không màng danh lợi, biết bao lần chủ động tự buông bỏ vương vị, khi đó nhận được những lời tán dương, khen ngợi của rất nhiều người.

Nhưng có người cũng cho rằng, cổ nhân trị quốc có Đế Đạo, Vương Đạo, Bá Đạo. Kỳ thực, Đế Đạo chú trọng ‘vô vi’ mà trị, mọi việc thuận theo Thiên ý, không tại vị mới là câu chuyện đầy hứa hẹn. Anh Quý Trát muốn lấy vương vị ‘huynh đệ tương truyền’ đến sau cùng truyền cho Quý Trát, đó chỉ là miễn cưỡng mà thôi; cuối cùng ‘hoạ khởi tiêu tường’, hoạ đến từ người thân trong nhà, nội bộ lục đục, chân tay điêu tàn. Căn nguyên vẫn là có tư tưởng bảo thủ, không thuận thừa Thiên ý mà truyền ngôi vị. Và câu chuyện Quý Trát treo gươm, mặc dù lờ mờ nhưng người cùng người tán thán, thực ra thì cũng không phải là câu chuyện đẹp. 

Gia Cát Lượng viết: “Phu quân tử chi hành, tĩnh dĩ tu thân, kiệm dĩ dưỡng đức, phi đạm bạc vô dĩ minh chí, phi ninh tĩnh vô dĩ chí viễn”, ý muốn nói rằng, cái hành của người quân tử là lấy tĩnh lặng để tu thân, lấy cần kiệm để dưỡng đức, không đạm bạc thì chí không sáng, không tĩnh thì không thể nhìn xa được. Sứ thần đi tham quan các nước thì lễ nghi y phục không thể hơn đồ trang sức phù hoa. Ngày nay,  bởi vì một thanh kiếm mà khiến cho quốc vương nước Từ sinh lòng tham không đáy, và Quý Trát không thể tách bóc khỏi cái tình, trong lòng nhiều lần thầm tặng kiếm, cũng là tự tìm phiền não. Thiên hạ mê kiếm này nhiều quá mức, kẻ ham tài vật chẳng kém là bao, há nào có thể tán dương đây?

*** ***

Cổ nhân dạy, chữ tín còn quý hơn vàng. Lời hứa không thể nói chơi, chữ tín không thể đánh mất. Nói lời phải giữ lấy lời, đừng như con bướm đậu rồi lại bay. Chẳng phải một lần bất tín vạn lần bất tin, thế nên “quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy”.

Theo Sound of Hope
Mỹ An biên dịch



DKN.TV

Phát Bùi
Phát Bùi
Sáng đi làm.
Chiều đi học.
Tối làm homework.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Đọc Nhiều

Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi- Những ước mơ tan vỡ của...

CHƯƠNG 9: “CHỈ CẦN MỘT PHÁT SÚNG LÀ CƠN...

Cuộc thảm sát sắc tộc ở Tulsa năm 1921

PBSO News Gretchen Frazee “Lịch sử không phải là...

Polygraph: Trung Quốc xuyên tạc việc quyên tặng vắc-xin của Hoa Kỳ

Ngoài bình luận về cam kết hỗ trợ vắc-xin...

Mạn đàm chữ truyền thống (1): Điều thân thuộc dần trở nên xa lạ

Nếu chúng ta sống trên quê hương xứ...

Cập nhật thông tin COVID toàn cầu

Miền bắc Trung Quốc: Phong tỏa thêm vì COVID Nhiều...

Mới Đăng

- Quảng cáo -

Cùng Chuyên Mục
Recommended to you