Monday, May 10, 2021

Hatchepsut- Nữ Pharaoh (Phần 1)

-

Untitled

Joyce Tyldesley

Trần Quang Nghĩa dịch

GIỚI THIỆU

Mệnh lệnh của ta đứng vững như núi, đĩa mặt trời chiếu rọi và lan tỏa tia sáng trên danh hiệu uy nghi của ta, và con chim ưng của ta bay cao trên ngọn hoàng kỳ đến muôn đời.

Hoàng hậu hoặc, Vua Hatchepsut, như tên bà muốn được nhắc đến, đã cai trị Ai Cập thời Vương triều thứ 18 trong hơn hai mươi năm. Câu chuyện của bà là câu chuyện của một người phụ nữ xuất chúng. Sinh ra là con gái lớn của Vua Tuthmosis I, kết hôn với người anh cùng cha khác mẹ Tuthmosis II, và là người giám hộ cho đứa con riêng nhỏ tuổi của chồng, sau này là Vua Tuthmosis III, bằng cách nào đó Hatchepsut đã cố gắng thách thức truyền thống và vươn mình lên ngôi vị thần thánh của các pharaoh. Kể từ thời điểm này trở đi, Hatchepsut trở thành hiện thân của nữ giới trong vai trò nam giới, được mô tả độc đáo cả như một người phụ nữ thông thường và một đấng nam nhi, mặc quần áo nam, mang các phụ kiện nam và thậm chí còn mang bộ râu giả truyền thống của pharaoh. Triều đại của bà, một thời kỳ cân bằng thận trọng giữa hòa bình nội bộ, thăm dò ngoại bang và xây dựng hoành tráng, trên mọi phương diện – ngoại trừ một điều – một chế độ Tân Vương quốc quy ước; Ai Cập thịnh vượng dưới thời cai trị của bà. Tuy nhiên, sau cái chết của Hatchepsut, một nỗ lực nghiêm túc đã được thực hiện để xóa tên và hình ảnh của bà ra khỏi lịch sử Ai Cập. Các di tích của Hatchepsut hoặc bị phá hủy hoặc bị chiếm đoạt, chân dung của bà bị phá hỏng và tên tuổi của bà bị xóa khỏi danh sách các vị vua chính thức cho đến khi sử gia Manetho lưu giữ ký ức về một nữ quân vương tên là Amense hoặc Amensis là vị vua thứ năm của Vương triều thứ 18.

Nếu Hatchepsut sinh ra là một nam giới, thì thời cai trị lâu dài của bà gần như chắc chắn sẽ được ghi nhớ vì những thành tựu của mình: chính tình ổn định, các hoạt động thương mại phát triển và những thành tựu kiến ​​trúc ấn tượng bao gồm việc xây dựng ngôi đền Deir el-Bahri ở bờ tây sông Nile tại Luxor, một công trình vẫn được nhiều người đánh giá là một trong những toà nhà đẹp nhất thế giới. Thay vào đó, giới tính của Hatchepsut đã trở thành đặc điểm quan trọng nhất của bà và hầu như tất cả các tham chiếu đến triều đại của bà không tập trung vào các chính sách của bà mà là các mối quan hệ cá nhân và các cuộc tranh giành quyền lực mà nhiều sử gia cảm thấy có thể phát hiện ra trong gia đình hoàng gia Thebes đầu Vương triều 18 ngột ngạt. Hai câu hỏi liên kết với nhau nảy sinh lặp đi lặp lại, chi phối tất cả các ghi chép về cuộc đời của Hatchepsut: Điều gì đã khiến một hoàng hậu truyền thống đến đây bổng quyết định trở thành vua? Và làm thế nào, trong một xã hội bảo thủ và trọng nam quyền, bà ấy có thể đạt được mục tiêu của mình một cách dễ dàng đến như vậy?

Nói chung, người ta cho rằng việc giải đáp cho những câu đố này phải được tìm kiếm trong chính tính cách của người phụ nữ. Tuy nhiên, đây là nơi mọi thỏa thuận kết thúc vì tập hợp dữ kiện giống hệt nhau và khá hạn chế đã gợi ý những hình ảnh hoàn toàn đa dạng về cùng một người phụ nữ đối với các quan sát viên khác nhau, đến mức một độc giả bình thường duyệt qua kệ sách Ai Cập học có thể được thông cảm khi cho rằng Hatchepsut bị bệnh đa nhân cách trầm trọng. Các nhà Ai Cập học, thường là những người khô khan và thận trọng nhất trong số các học giả, hẳn sẽ vui sướng khi được phép xen cảm xúc của bản thân khi kể chuyện Hatchepsut và đặc biệt hơn khi giải thích động cơ đằng sau những việc làm của bà. Những cảm xúc này có xu hướng trùng khớp với niềm tin phổ biến của một thế hệ, vì vậy chúng tôi nhận thấy rằng các nhà Ai Cập học vào thời điểm chuyển giao thế kỷ không nhận thức được sự phức tạp của sự kế vị trong triều đại Tuthmosis và đã quen với ý tưởng về việc phái nữ cai trị thành công mà Nữ hoàng Victoria là một minh họa, nên vui vẻ chấp nhận việc tuyên truyền cho Hatchepsut. Đối với những người ưu ái cho nữ quyền này, Hatchepsut là một vị vua hợp pháp, một phụ nữ giàu kinh nghiệm và có thiện chí, cùng trị vì thân thiện với đứa con chồng trẻ tuổi của mình, dẫn dắt đất nước qua hai mươi năm hòa bình, thịnh vượng.

Mặc dù không được đề cập trong danh sách các vị vua Ai Cập, bà xứng đáng được tưởng nhớ như một vì vua vĩ đại của Ai Cập như bất kỳ vị vua hoặc nữ hoàng nào trong Vương triều thứ 18.

Là một người phụ nữ ‘không nằm dưới mức tiêu chuẩn của phần còn lại của Vương triều thứ 18 … đã đưa ra bằng chứng rất sớm về khả năng trị vì của mình’, Hatchepsut ‘đương nhiên đảm nhận việc cai trị Ai Cập, và chúng ta hoàn toàn có lý khi nói rằng lợi ích của đất nước không bị tổn thất gì trong tay bà ấy’.Tóm lại:

… Mặc dù bà chưa bao giờ được coi là một vị vua hợp pháp, và mặc dù bà ấy không để lại cho chúng ta ghi chép nào về những cuộc chinh phạt vĩ đại, nhưng chính quyền của bà ắt hẳn đã trở nên nhanh chóng hùng mạnh và đổi mới, vì khi con chồng của bà Tuthmosis III lên kế vị bà, thì đất nước đã đủ hùng mạnh và giàu có để cho phép ông ta lao vào xây dựng không chỉ các công trình vĩ đại, mà còn liên tiếp phát động các cuộc chiến tranh chinh phạt đã khiến ông, trong số tất cả các vị vua Ai Cập, được gán cho danh hiệu ‘Đại đế’ lẫy lừng.

Đến những năm 1960, kiến ​​thức về lịch sử đầu Vương triều 18 đã tăng lên, quan điểm lịch sử đã thay đổi và Hatchepsut đã biến thành bà mẹ kế độc ác nguyên mẫu quen thuộc trong các bộ phim nổi tiếng Bạch Tuyết và Lọ Lem. Giờ đây, bà là một người phụ nữ không chân chất mà đầy mưu mô ‘trong số những nhân vật xấu xa nhất’, và là người cố tình lạm dụng vị trí được tín nhiệm để cướp ngai vàng từ một đứa trẻ không có khả năng tự vệ, do đó cắt ngắn triều đại của một trong những pharaoh vẻ vang nhất Ai Cập, Tuthmosis III . Hatchepsut là một người phụ nữ xấu tính, ‘sắc sảo, tham vọng và vô đạo đức , người sớm thể hiện bản thân trong màu sắc thực sự của mình . Chính sách đối ngoại của bà – kết quả trực tiếp của phái yếu – chỉ hoàn toàn là một thảm họa và:

Triều đại của bà ấy được đánh dấu bằng việc dừng lại chính sách chinh phạt do Ahmose bắt đầu và ba người kế vị của ông tiếp nối một cách huy hoàng… Hatchepsut quá bận rộn giải quyết những khó khăn nội bộ mà chính bà đã tạo ra do tham vọng trục lợi từ các vấn đề của châu Á.

Với nhận thức ngày càng tăng rằng Hatchepsut, một người phụ nữ bằng xương bằng thịt chứ không phải là một nhân vật trong truyện một chiều, không thể được phân loại đơn giản là ‘tốt’ hoặc ‘xấu’, hầu hết những phản ứng cực đoan hơn này đã bị loại bỏ. Tuy nhiên, chúng đã để lại dấu ấn của mình trên các trang sử phổ biến hơn và một số lượng đáng kể các biên niên sử về cuộc sống của triều đình Vương triều thứ 18 tiếp tục duy trì mối thù gia tộc truyền thống của Tuthmosis vĩ đại. Mặc dù rất khó cho bất kỳ người viết tiểu sử nào có thể hoàn toàn vô tư về chủ đề của mình, tôi đang cố gắng cung cấp cho độc giả không chuyên về cuộc đời và thời đại của Vua Hatchepsut, được thu thập từ các nghiên cứu của những nhà Ai Cập học đó, những người đã dành nhiều năm để nghiên cứu, đôi khi là những chi tiết nhỏ, những sợi chỉ bằng chứng riêng lẻ mà khi được dệt lại với nhau, tạo thành tấm thảm mô tả triều đại bà. Người đọc quyết định tính đúng sai trong các hành động của bà ấy. Tuy nhiên, gần như ngay lập tức rõ ràng là câu chuyện của Hatchepsut mở ra để trở thành ba câu chuyện liên kết với nhau: lịch sử của nhà vua và gia đình trực hệ của bà, lịch sử về ký ức về Hatchepsut sau khi bà qua đời, và câu chuyện hấp dẫn không kém của những người đã nghiên cứu và diễn giải bà ấy. Không thể nghiên cứu một chuyện mà không tham khảo những chuyện khác, và tôi đã không cố gắng tách ba chuyện ra.

Công khai cuộc đời về Vua Hatchepsut đã được cho thấy là một bài thực tập về hoạt động phát hiện, vì tất cả các hồ sơ khảo cổ thường đưa ra đủ manh mối để thu hút Hercule Poirot (nhân vật thám tử nổi tiếng trong một loạt các truyện trinh thám điều tra hình sự lừng danh: ND) trong khi khiêm tốn giữ lại phần bằng chứng cuối cùng cần thiết để chứng minh hoặc bác bỏ một lý thuyết cụ thể. Tuy nhiên, mặc dù thực tế là có những lỗ hổng lớn trong kiến ​​thức của chúng ta, nhưng các di tích minh chứng cho những thành tựu của bà và các văn bản tuyên truyền được viết để giải thích hành động của bà đã cung cấp cho chúng ta bằng chứng cần thiết để tái tạo ít nhất một phần lịch sử về triều đại của Hatchepsut. Người phụ nữ riêng tư – Hatchepsut với tư cách là con gái, người vợ và người mẹ – càng khó tiếp cận hơn vì chúng ta đang thiếu hầu như tất cả các chi tiết mật thiết có thể giúp một nhân vật lịch sử trở nên sống động với độc giả hiện đại. Hatchepsut sống trong thời đại biết chữ, nhưng thuộc về một xã hội không tin vào việc lưu giữ hồ sơ cá nhân. Các ghi chép đương đại được lưu giữ hầu như luôn luôn là tài liệu chính thức mà về bản chất, hiếm khi bày tỏ ý kiến ​​riêng tư. Chúng tôi không có bức thư thân mật nào được viết cho, bởi hoặc về Hatchepsut và không có nhật ký hay hồi ký nào cung cấp cho chúng ta cái nhìn sơ lược về cuộc sống của triều đình đầu Vương triều thứ 18; chúng ta thậm chí không thể chắc chắn về diện mạo thực sự của Hatchepsut, vì tất cả các bức chân dung của bà ấy đều là những tác phẩm nghệ thuật chính thức được thiết kế để mô tả lý tưởng của vị pharaoh thần thánh của Ai Cập. Do đó, Hatchepsut thực sự vẫn là một điều gì đó bí ẩn, mặc dù nếu chúng ta nhìn đủ kỹ vào mối quan hệ của bà ấy với người con gái mà bà ấy rõ ràng yêu và người cha mà bà ấy trân quý, hoặc nếu chúng ta cho rằng bà ấy rõ ràng cần phải giải thích hành động của mình và biện minh cho sự cai trị bất thường của mình bất cứ khi nào có thể, chúng ta cảm thấy mình có thể phát hiện ra một nhân cách phức tạp hơn và kém đúng đắn hơn ẩn sau vẻ ngoài của vị vua hùng mạnh.

Sự thiếu hụt thông tin sâu sát hơn này có lẽ giải thích một phần lý do tại sao Cleopatra VII, một nữ hoàng thoáng qua và kém thành tích hơn rất nhiều nhưng được rất nhiều tài liệu ghi chép, đã thu hút sự chú ý của các nhà viết tiểu sử kể từ thời điểm bà qua đời trong khi Hatchepsut hầu như bị phớt lờ trừ những sử gia tận tụy nhất. Tương tự như vậy, Nữ hoàng Nefertiti, người kết hôn ngắn ngủi với một vị vua khác thường, chỉ trên cơ sở một bức tượng đầu đáng chú ý, đã trở thành bất tử, tên của bà đồng nghĩa với vẻ đẹp Ai Cập trên khắp thế giới phương Tây. Bản thân Hatchepsut gần như chắc chắn sẽ tán thành việc chúng ta không thể dò xét chuyện riêng tư của bà ấy. Tất cả các vị vua Ai Cập đều khao khát tuân theo khuôn mẫu đã được chấp nhận, và bà cũng không ngoại lệ. Bà không muốn được nhớ đến chỉ vì giới tính của mình, điều mà bà coi là không liên quan; bà đã yêu cầu – và trong một thời gian ngắn đã giành được – quyền được xếp hạng ngang hàng với các pharaoh.

Hatchepsut là một thành viên của gia đình hoàng gia Thebes thân thiết, một gia đình đã đấu tranh để thống nhất Ai Cập vào cuối Thời kỳ Trung gian thứ hai và các triều đại của họ đã gây ra sự phân chia giả tạo giữa Vương triều 17 và 18. Để hiểu được động cơ của gia đình này – chủ nghĩa quân phiệt khốc liệt, việc đề cao vị thần nhà nước mới Amen và cách đối xử tự do với phụ nữ hoàng gia – cần phải nghiên cứu sâu hơn về thời kỳ mà Ai Cập đã bị chia cắt trong một thế kỷ, một phần đất nước do người nước ngoài cai trị. Hatchepsut cần được nghiên cứu trong bối cảnh của riêng bà ấy, và tôi không xin lỗi vì thực tế là lịch sử Ai Cập chiếm hầu hết các Chương 1 và 2. Bản thân Hatchepsut đã nhận thức sâu sắc – một số người thậm chí có thể nói bị ám ảnh bởi – quá khứ gần đây của đất nước bà ấy, và triều đại của bà được đặc trưng bởi khát vọng cháy bỏng muốn tái tạo lại những thời kỳ huy hoàng của Vương triều thứ 12, thời kỳ hoàng kim khi Ai Cập thịnh vượng dưới sự kế vị của các vị vua hùng mạnh.

Hatchepsut hoàn toàn không phải là vị vua duy nhất của Ai Cập cố gắng tái tạo những vinh quang trong quá khứ. Đối với người Ai Cập, luôn là một dân tộc có tính bảo thủ cao, sự ổn định và liên tục là những dấu hiệu cực kỳ quan trọng cho thấy tất cả đều tốt đẹp trong thế giới của họ. Lịch sử, được diễn giải một cách chính xác để hiển thị Ai Cập và những người cai trị của bà ấy dưới ánh sáng tốt nhất có thể, đã cung cấp một bản thiết kế lý tưởng cho hiện tại, để bất kỳ pharaoh nào có thể mô phỏng thành công các tiên vương lừng lẫy thì theo định nghĩa sẽ được coi là một vị vua tốt. Mặc dù thời kỳ đầu của Vương triều thứ 18 là thời kỳ của những tiến bộ về kiến ​​trúc, nghệ thuật, thần học và công nghệ, Vương quốc Mới Ai Cập vẫn gắn liền với Ai Cập Trung và Vương quốc Cổ bởi sự liên tục vô song của ngôn ngữ, tôn giáo và quy ước nghệ thuật / kiến ​​trúc, và bởi quan điểm riêng của Ai Cập về thế giới và vị trí của Ai Cập, dân tộc và các vị thần trong thế giới đó, về cơ bản vẫn không thay đổi trong hơn một nghìn năm. Do đó, các vị vua của Vương triều thứ 18 cảm thấy không chỉ cần phải mô phỏng những thành tích vật chất của người tiền nhiệm mà còn phải nhân rộng – trên quy mô lớn nhất có thể – các nghi lễ, tranh vẽ, điêu khắc và kiến ​​trúc của họ, tất cả đều được chấp nhận là sự thật và, thực sự, là cách duy nhất để làm mọi việc. Trong suốt triều đại của mình, Hatchepsut, hơn bất kỳ vị pharaoh nào khác của Vương quốc Mới, nhấn mạnh tính hợp lệ quyền cai trị của mình bằng cách liên kết nó với cả hai khía cạnh chọn lọc của quá khứ – mặc dù quá khứ được tái tạo để phù hợp với những mối quan tâm đương thời – và với quốc giáo. Vì vậy, bà đã có thể biện minh cho vị trí độc tôn của mình đối với người dân, làm tăng niềm tin của họ vào triều đại bất thường của bà.

Thời kỳ triều đại kéo dài từ đầu Vương triều thứ nhất vào khoảng 3000 năm trước Công nguyên đến cuối Vương triều thứ 31 vào năm 332 trước Công nguyên. Trong suốt thời kỳ hơn hai nghìn năm này, nó vẫn theo một nguyên tắc cơ bản của niềm tin tôn giáo rằng luôn phải có một pharaoh, hoặc vua, trên ngai vàng của Ai Cập. Từ ‘pharaoh’ hiện đại là một phép ẩn dụ được phát triển từ chữ ‘per-a’a’ của người Ai Cập, nghĩa đen là ‘ngôi nhà vĩ đại’, một thuật ngữ được người Ai Cập sử dụng khi đề cập đến quốc vương của họ giống như cách mà người Anh hiện đại đề cập đến “Vương miện” hoặc “một tuyên bố từ Cung điện”, và người Mỹ đương đại nói về “Nhà Trắng”. (Các từ vua và pharaoh được sử dụng thay thế cho nhau trong suốt cuốn sách này để tránh sự đơn điệu về văn phong.) Thường chỉ có một nam giới, vị vua bản địa của Ai Cập vào bất kỳ thời điểm nào, mặc dù đôi khi một số pharaoh chọn chia sẻ quyền lực của mình với một người đồng nhiếp chính, và trong ít nhất bốn dịp riêng biệt, một phụ nữ chứ không phải một ông chính thức nắm giữ quyền lực. Trong ba thời kỳ Trung gian phi tập trung, thường có hai hoặc nhiều vị vua đương thời cai trị các vùng khác nhau của đất nước tạm thời bị chia cắt; một số vị vua này là người nước ngoài, những người sẵn sàng từ bỏ bản sắc văn hóa của mình và áp dụng thần thái truyền thống của pharaoh để phù hợp với khuôn mẫu được chấp nhận của một vị vua Ai Cập. Vua là một điều cần thiết. Ông có thể không phải lúc nào cũng nổi tiếng với những người đương thời, và thực sự một vài vị vua thậm chí đã bị ám sát, nhưng những cá nhân bất hạnh này ngay lập tức được thay thế bằng một vị vua mới và không hề có bất kỳ động thái nào để thành lập bất kỳ hình thức chính quyền nào khác ở Ai Cập.

Ở phương Tây, chúng ta đã quen với ý tưởng về quốc vương bù nhìn là nguyên thủ quốc gia trên danh nghĩa; Ví dụ, Nữ hoàng Anh hiện tại vẫn là người đứng đầu lý thuyết về cả đời sống thế tục và tôn giáo ở Anh, mặc dù quyền lực thực tế của bà khá tối thiểu và sự tồn tại của bà không có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của đất nước bà. Việc bãi bỏ chế độ quân chủ và thành lập một nền cộng hòa sẽ có rất ít ảnh hưởng thực sự đến cuộc sống hàng ngày của đa số người dân Anh. Tuy nhiên, ở Ai Cập cổ đại, mọi thứ rất khác. Pharaoh được chấp nhận không nghi ngờ gì với tư cách là một người cai trị tuyệt đối, người sở hữu cả đất đai và người dân. Ông ta có quyền yêu cầu thần dân của mình làm việc cho ông ta bất cứ khi nào ông ta thích, và mọi người phải phục vụ chủ nhân của họ theo bất cứ cách nào ông ta yêu cầu. Bất cứ lúc nào pharaoh cũng có thể kêu gọi thần dân của mình từ bỏ công việc hàng ngày và tham gia vào các dự án hoàng gia sử dụng nhiều lao động như xây dựng một tượng đài công cộng, loại công việc tồi tệ và đòi hỏi sự cực nhọc mà chỉ được trả công bằng khẩu phần sinh hoạt. Chỉ những tầng lớp thượng lưu có học, và những người đủ giàu để trả những khoản hối lộ đáng kể, mới có thể hy vọng tránh được nghĩa vụ lao dịch đáng ghét bỏ này.

Bù lại vị pharaoh này lại có một số trách nhiệm đối với thần dân của mình. Với tư cách là người đứng đầu cơ quan dân sự và cơ quan tư pháp, ông có nhiệm vụ đảm bảo rằng đất nước hoạt động hiệu quả: thuế được thu từ những người sản xuất chính, lương thực dư thừa được tích trữ để chống lại nạn đói có thể xảy ra, các kênh thủy lợi được đào, các dự án xây dựng được hoàn thành, luật pháp và trật tự được duy trì trên khắp đất nước. Nhà vua điều hành đất nước với sự giúp đỡ của một nhóm tương đối nhỏ các quan chức và cố vấn được tuyển chọn từ các tầng lớp được đào tạo bài bản, nhiều người trong số họ là những người thân cận của ông, và lời của ông là luật. Là người đứng đầu lực lượng vũ trang, pharaoh cũng chịu trách nhiệm đảm bảo rằng Ai Cập luôn an toàn trước những kẻ xâm lược nước ngoài. Chính nhà vua lên kế hoạch cho các chiến dịch quân sự và là người bảo vệ biên giới Ai Cập, và chính nhà vua đã đích thân dẫn dắt quân đội Ai Cập vào trận chiến.

Tuy nhiên, pharaoh không phải là một nhà quản lý hay chính trị gia đơn thuần – bất kỳ quan chức có thẩm quyền nào cũng có thể thực hiện chức năng đó. Thật vậy, vua Ai Cập không phải là một con người đơn giản; ông ta có một nhân cách kép. Mặc dù rõ ràng ông ta là một người phàm trần, được sinh ra bởi một người mẹ phàm trần, người có thể chịu những niềm vui, bất hạnh và bệnh tật như bất kỳ người Ai Cập khác, nhưng trong vai trò chính thức của mình, pharaoh được công nhận là người nắm giữ chức vụ thần thánh, một vị thần ngoại lệ trên Trái đất. Thần tính này được thừa hưởng cùng với danh hiệu của ông ấy sau cái chết của người tiền nhiệm, khi vị vua cũ được liên kết với thần chết của Thế giới bên kia, Osiris, và vị vua mới được liên kết với các vị thần sống Re, thần mặt trời và Horus, con trai đầu chim ưng của Osiris. Vị thế thần thánh mới có được của ông đã tách nhà vua khỏi thần dân của mình và cho phép ông nói chuyện trực tiếp với đền thờ Ai Cập, tạo thành một liên kết quan trọng giữa những người khiêm tốn với các vị thần và nữ thần thiêng liêng, những người kiểm soát số phận của họ. Là người Ai Cập duy nhất có thể giao tiếp hiệu quả với các vị thần, nhà vua trở thành thầy tu của tất cả các giáo phái: chính nhà vua phải chịu trách nhiệm đảm bảo rằng các vị thần được phục vụ một cách thích hợp. Đổi lại, các vị thần đồng ý đảm bảo sự thịnh vượng của đất nước và người dân. Chính khía cạnh thần thánh này trong vai trò của ông đã đảm bảo rằng pharaoh trở thành không thể thiếu đối với người dân của ông. Ai Cập chỉ đơn giản là không thể phát triển mạnh mẽ nếu không có một vị vua trên ngai vàng.

Việc thiếu một pharaoh hợp pháp là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy các vị thần không hài lòng và maat vắng mặt trên mặt đất. Maat, một từ có thể được dịch theo nghĩa đen là “công lý” hoặc “sự thật”, là thuật ngữ được người Ai Cập sử dụng để mô tả một khái niệm trừu tượng đại diện cho trạng thái lý tưởng của vũ trụ và mọi người trong đó; hiện trạng, hoặc trật tự chính xác, đã được thiết lập bởi các vị thần vào thời điểm sáng tạo và phải được duy trì để xoa dịu các vị thần, nhưng luôn bị đe dọa bởi những tác động xấu bên ngoài tìm cách mang lại hỗn loạn và gián đoạn (hoặc isfet ) cho Ai Cập. Các nhà sử học hiện đại đã phải vật lộn để tìm ra những từ cung cấp một lời giải thích đầy đủ về khái niệm ‘sự đúng đắn’ hay ‘cách làm đúng đắn’; có lẽ David O’Connor đã tiến gần nhất đến ý nghĩa ban đầu của thuật ngữ này khi ông định nghĩa maat là:

Sự sắp xếp phù hợp của vũ trụ và các vấn đề của con người – một nỗ lực tóm tắt thế giới quan của người Ai Cập ở dạng thần thoại, mạch lạc. Nhiều thế kỷ trước thời Tân Vương quốc, khái niệm maat là sự kết tinh của vô số ý tưởng tôn giáo và thế tục, và tính liên tục của nó phụ thuộc vào tính liên tục của chúng; tuy nhiên, chính sự tồn tại của nó như một tuyên bố chính thức về niềm tin của người Ai Cập đã giúp duy trì những ý tưởng và thái độ mà nó dựa trên.

Sự hỗn loạn không kiểm soát được đáng sợ hơn bất cứ điều gì khác và thời kỳ không có vua, theo định nghĩa là thời kỳ không có maat, do đó, là điều cần phải tránh bằng mọi giá. Những thời kỳ maat được coi là vắng mặt ở Ai Cập, chẳng hạn như Thời kỳ Trung gian không có vua, được coi là sự đối chiếu khủng khiếp được thiết kế để nhấn mạnh những phẩm chất của những thời đại chính thống hơn; Ví dụ, trong văn bản bi quan và phóng đại quá nhiều vào cuối thời Trung Vương quốc được gọi là Lời khuyên cáo của Ipuwer, chúng ta được biết ‘sự vui vẻ đã chấm dứt và không còn được tạo ra nữa, và tiếng rên rỉ vang khắp mặt đất … đất bị bỏ hoang quá’ ra sao, một sự tương phản rõ ràng và có chủ ý với thời kỳ cuối Vương triều 12 yên bình và có trật tự khi văn bản được sáng tác. Những tội ác khủng khiếp hơn chống lại maat, chẳng hạn như tội giết vua, chỉ đơn giản là bị loại bỏ khỏi hồ sơ lịch sử. Đó là sức mạnh của chữ viết mà chỉ bằng cách loại trừ việc đề cập đến một sự kiện ra khỏi văn kiện lưu trữ, bản thân sự kiện đó có thể được hiểu là không hề xảy ra.

Chức năng của vị vua thần thánh tự nó là một phần không thể thiếu của khái niệm maat, trong đó vị vua chịu trách nhiệm cá nhân về việc duy trì maat trên khắp mặt đất; đó là nhiệm vụ của pharaoh để bảo vệ maat cho các vị thần có phần nóng nảy của Ai Cập. Trong suốt thời đại vương triều, khái niệm về maat và tính chất thiêng liêng của vương quyền đương nhiên đóng vai trò củng cố địa vị của hoàng gia. Bằng cách đảm bảo rằng quyền lực và quyền của pharaoh không thể bị thẩm vấn công khai mà không gây ra mối đe dọa cho an ninh của đất nước (nghĩa là, không đe dọa sự hiện diện của maat), nhóm thượng đỉnh cầm quyền vẫn an toàn ở trên cùng của kim tự tháp xã hội, trong khi tầng lớp thấp tiếp tục lao động vì lợi ích của nhà nước, và tầng lớp trung lưu có học thức vẫn quá phụ thuộc vào vương miện và quá ràng buộc bởi những phong tục mà họ tôn kính để thách thức sự phân bổ nguồn lực truyền thống này.

Do đó, không quá ngạc nhiên khi thấy các pharaoh riêng lẻ khai thác khái niệm maat cho lợi thế cụ thể của riêng họ, sử dụng nó để củng cố quyền cai trị của chính họ và biện minh cho bất kỳ hành động nào có thể đã được chứng minh là không thể chấp nhận được hoặc đáng nghi ngờ đối với những người Ai Cập bảo thủ cao. . Hatchepsut, người kế vị bất thường có thể bị một số người hiểu là mang tội chống lại maat, đã phát động một chính sách đối nội mạnh mẽ được thiết kế để chứng minh là maat không nghi ngờ gì nữa đã được thiết lập vững chắc trên khắp Ai Cập: chương trình xây dựng quy mô lớn của bà, lòng tôn sùng rõ ràng đối với giáo phái Amen, các hoạt động giao thương phát đạt và công việc phục hồi các di tích đã bị kẻ xâm lược Hyksos phá hủy trong Thời kỳ Trung gian đã đánh mất maat, tất cả đều là những hành động có tính toán để chứng minh sự hiện diện của thịnh vượng, luật pháp và trật tự. Người dân của bà có thể thấy rằng các vị thần, hài lòng với chế độ mới, đang cho phép Ai Cập phát triển mạnh mẽ, và truyền thống không can thiệp vào hiện trạng đã giúp duy trì Hatchepsut ngồi vững trên ngai vàng.

Bằng chứng khảo cổ học về sự cần thiết đóng một phần lớn trong việc tái thiết Ai Cập cổ đại của chúng ta. Những thiếu sót trong hồ sơ khảo cổ Ai Cập đến nay đã được nhiều người biết đến, nhưng chúng đáng được nhắc lại vào thời điểm này vì chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tái thiết xã hội Ai Cập của chúng ta. Trong suốt lịch sử của mình, người Ai Cập thuộc triều đại cho rằng, trong khi các ngôi đền và lăng mộ của họ phải được xây dựng để tồn tại mãi mãi, thì nhà cửa, cung điện và nơi làm việc của họ chỉ là những công trình tạm thời và nên được thiết kế như vậy. Các ngôi đền và lăng mộ được xây bằng đá hoặc đẽo trong đá, trong khi các công trình ít quan trọng hơn được xây bằng gạch bùn, loại gạch này rẻ, sẵn có, dễ thi công và rất phù hợp với khí hậu khô hạn của Ai Cập. Thật không may, trong khi các công trình kiến ​​trúc bằng đá còn tồn tại tương đối nguyên vẹn, những ngôi làng, thị trấn và thành phố bằng gạch bùn đã đổ nát, sụp đổ tạo thành những gò đất màu mỡ, đã bị các nông dân địa phương, vốn không biết gì về giá trị khảo cổ học của chúng, khai thác cho đến khi chính phủ Ai Cập ban hành luật bảo vệ. Toàn bộ tình hình thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn do điều kiện ẩm ướt ở vùng châu thổ ngập lũ sông Nile, đã đẩy nhanh việc phá hủy các công trình bằng gạch bùn trong khi một số địa điểm cổ xưa còn tồn tại nguyên vẹn lại là các thị trấn được xây dựng theo mục đích không điển hình, nằm cách xa nơi ẩm thấp của khu vực canh tác. Các bằng chứng khảo cổ học còn sót lại do đó thiên về tôn giáo và cái chết; chúng ta có, ví dụ, hai ngôi mộ, ba quan tài và một số ngôi đền do Hatchepsut xây dựng, nhưng có rất ít dấu vết về các cung điện nơi bà đã sống cuộc đời của mình. Nhìn chung, chúng ta chỉ còn lại ấn tượng sai lầm rằng người Ai Cập là một chủng tộc u ám và bệnh hoạn trầm cảm.

Lịch sử khai quật khảo cổ học ở Ai Cập cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hiểu biết của chúng ta về quá khứ của đất nước đó. Xu hướng tìm kiếm và khai quật các địa điểm chôn cất danh tiếng hơn của các nhà khảo cổ Ai Cập ban đầu, thường hoạt động ít hơn so với những kẻ săn lùng kho báu và bọn trộm mộ, chắc chắn đã làm tăng thêm sự thiên vị về danh dự và tôn giáo trong bằng chứng của chúng ta. Trong năm mươi năm qua, với sự ra đời của các phương pháp khai quật mới và ghi chép khoa học hơn, các nhà Ai Cập học hiện đại đã tiến bộ và nhận ra rằng biết bao nhiêu bằng chứng có giá trị đã bị các đồng nghiệp tiền bối bỏ qua và thậm chí phá hủy trong cuộc chạy đua làm người đầu tiên tiếp cận ‘kho báu quý giá.’ Ngay cả thế hệ những nhà khai quật mới có học, hoạt động theo tiêu chuẩn thời đại của họ, cũng có khả năng vô tình làm sai lệch hồ sơ khảo cổ học: như vào năm 1894, Edouard Naville chỉ trích thói quen đổ bừa bãi đất cát của Auguste Mariette gần đền Deir el-Bahri, khiến ‘đôi khi dẫn đến việc ông ta che lấp các địa điểm quan trọng, và do đó bỏ qua những khám phá tiềm năng có thể làm tăng danh tiếng cho chính bản thân ông’. Nhưng đến lượt Naville lại không biết rằng, khoảng ba mươi năm sau, một đội khai quật Mỹ do Herbert E. Winlock dẫn đầu sẽ khám phá ra một số lượng lớn các bức tượng bị hỏng của Vua Hatchepsut ngay bên dưới đống đổ nát mà chính Naville bố trí cẩn thận.

Nhiều cuộc thám hiểm khảo cổ học hiệu quả nhất vào đầu thế kỷ này được tài trợ bởi những người phương Tây giàu có, cả cá nhân và tổ chức, những người đã được thưởng cho sự hào phóng của họ bằng một phần cổ vật được phát hiện. Điều này đã gây ra các vấn đề riêng của nó khi các bộ sưu tập có giá trị thường xuyên bị chia nhỏ và phân tán khắp các bảo tàng của Ai Cập, Châu Âu và Châu Mỹ. Bức tượng của Hatchepsut, vốn thường được người Mỹ tài trợ, giờ đây có thể được nghiên cứu tốt hơn tại Bảo tàng Metropolitan New York hơn là tại các bảo tàng ở Luxor hoặc Cairo. Mặc dù điều này có lợi cho việc bảo quản và trưng bày các cổ vật mà lẽ ra chúng có thể nằm mòn mỏi trong các kho của bảo tàng quá chật chội của Ai Cập, nhưng nó lại đặt ra vấn đề chi phí đi lại cho các sinh viên nghèo khó chuyên nghiên cứu về Hatchepsut. Bản thân Hatchepsut cũng phải chịu hậu quả nặng nề vì ngôi mộ của Tutankhamen, một vị vua tương đối tầm thường với buồng chôn cất đầy những đồ tạo tác bằng vàng, được phát hiện vào năm 1922, đã chuyển hướng sự chú ý khỏi công việc có giá trị tương đương nhưng kém thú vị hơn mới bắt đầu ở điện thờ an táng Deir el -Bahri. Từ năm 1922 trở đi, Tutankhamen đã đi vào trí tưởng tượng của công chúng như một biểu tượng tức thì của Ai Cập cổ đại, và bất kỳ khám phá nào kém ngoạn mục hơn thường được xếp vào loại có giá trị nhưng buồn tẻ.

Bằng chứng bằng văn bản được sử dụng trong việc tái tạo lịch sử Ai Cập đến từ hai nguồn chính: các chữ khắc hoành tráng chính thức được chạm khắc hoặc vẽ trên các bức tường đền và lăng mộ, và những lời cầu nguyện thân thiết hơn, hồ sơ hành chính, câu chuyện và bài thơ tình được lưu giữ trên giấy cói và trên các mảnh vỡ gốm hoặc đá vôi vụn ngày nay được gọi là ostraca (số ít là ostraconl). Một lần nữa, bằng chứng này cần được tiếp cận với mức độ thận trọng thích hợp; chúng ta đừng bao giờ để ý đến thực tế là hồ sơ được viết ra không đầy đủ, được lựa chọn ngẫu nhiên, và mang những thành kiến ​​riêng của nó. Ví dụ, các bản khắc hoành tráng về cơ bản là sự kết hợp giữa các văn bản tôn giáo và tuyên truyền kể về câu chuyện mà nhà vua muốn truyền đạt, và không thể coi đó là sự thật theo nghĩa đen. Những người dịch những bản khắc này phải đối mặt với những vấn đề không chỉ về độ chính xác mà còn về sự diễn giải; ngay cả những học giả kỹ lưỡng nhất cũng nhận thức được rằng người đó có khả năng đọc một văn bản qua lăng kính của cảm xúc cá nhân. Tuy nhiên, và mặc dù có những hạn chế rõ ràng, loại bằng chứng này, được kết hợp với dữ liệu khảo cổ học và được làm sống động bởi các bài viết của những du khách đương đại và sau này đến Ai Cập, có thể cung cấp cho các nhà sử học hiện đại một cái nhìn vô giá về cuộc sống của Ai Cập cổ đại.

Những người không quen thuộc với lịch sử Ai Cập thường bối rối trước việc sử dụng các triều đại và các niên hiệu riêng lẻ để xác định niên đại của các sự kiện. Thay vì cung cấp một ngày lịch cụ thể, chẳng hạn như năm 1458 trước Công nguyên, các nhà Ai Cập học sẽ đề cập đến Năm trị vì thứ 21 của Hatchepsut, trong khi triều đại của bà được tính là một phần của Vương triều thứ 18 đầu Vương quốc Mới. Điều này được thực hiện để không gây nhầm lẫn nhưng để đảm bảo độ chính xác cao nhất có thể. Ví dụ, chúng ta biết rằng Hatchepsut đã cai trị trong hai mươi hai năm, nhưng ngày lịch chính xác của cô ấy ít chắc chắn hơn và các chuyên gia khác nhau đã đề xuất các khoảng thời gian khác nhau cho triều đại của cô ấy (ví dụ: 1504–1482 TCN 1490 –1468 TCN ; 1479–1457 TCN; 1473–1458 TCN). Việc áp dụng cách tính theo năm trị vì, được tuân theo trong suốt cuốn sách này, tránh được những phức tạp sinh ra bởi có nhiều niên lịch chỉ có tính gợi ý nhưng chưa được chứng minh này.

Người Ai Cập chia năm của họ thành mười hai tháng có 30 ngày cộng thêm 5 ngày mỗi năm, tổng cộng hàng năm là 365 ngày. Các tháng lần lượt được nhóm thành ba mùa dựa trên chu kỳ nông nghiệp: mùa lũ, mùa xuân và mùa hè. Tuy nhiên, không có lịch cổ đại nào tương đương với lịch hiện đại của chúng ta, và số năm bắt đầu mới với mỗi triều đại mới. Để chắc chắn về lịch sử của chính họ, các nhà ghi chép Ai Cập buộc phải duy trì danh sách dài theo niên đại chi tiết các vị vua kế tiếp và các triều đại của họ. May mắn thay, những danh sách được gọi là vua này đã tồn tại đủ để cho phép chúng ta tái tạo lại quá khứ của Ai Cập với mức độ chính xác tương đối. Công việc của thầy tu và sử gia Ai Cập Manetho đã cung cấp bằng chứng xác thực hữu ích. Manetho, làm việc vào khoảng năm 300 trước Công nguyên, đã biên soạn một lịch sử chi tiết về các đời vua Ai Cập. Tác phẩm gốc này hiện đã bị thất lạc, nhưng các mảnh vỡ vẫn còn được lưu giữ trong các tác phẩm của Josephus (năm 70 sau Công nguyên), Africanus (đầu thế kỷ thứ ba sau Công nguyên), Eusebius (đầu thế kỷ thứ tư sau Công nguyên) và Syncellus (khoảng năm 800 sau Công nguyên). Những trích đoạn được bảo tồn này không phải lúc nào cũng khớp và những cái tên được đưa ra thường không chính xác, nhưng các sinh viên lịch sử Ai Cập vẫn mang một món nợ khổng lồ đối với Manetho, ‘Cha đẻ của Lịch sử Ai Cập’. Chính Manetho là người đầu tiên chia ra các triều đại khác nhau và chính Manetho là người đã lưu giữ ký ức, dù không phải là tên thật, về Vua Hatchepsut.

Một nguồn gây nhầm lẫn tiềm ẩn khác là việc sử dụng nhiều tên cá nhân hơi khác nhau được nhiều tác giả gán cho cùng một địa điểm hoặc một người, đặc biệt khi các nguồn cũ hơn đang được trích dẫn. Ví dụ, Hatchepsut còn được gọi khác là Hatasu, Hashepsowe, Hatshopsitu, Hatshepsut và Hatshepsuit; Cha của bà là Dhutmose hay Thutmose ngày nay thường được biết đến nhiều hơn qua phiên bản tiếng Hy Lạp của tên ông, Tuthmosis, và các vị thần nhà nước Amen và Re thường được gọi là Amun và Ra. Một số người có uy tín đã nghĩ ra các biến thể độc quyền của riêng họ. Ví dụ, Sir Alan Gardiner luôn sử dụng Pwene thay cho Punt vốn được chấp nhận rộng rãi hơn, trong khi Naville, Buttles và các nhà Ai Cập học đầu thế kỷ này đảo ngược đế hiệu của Hatchepsut là Maatkare để đọc là Kamara. Thật không may cho độc giả hiện đại, người Ai Cập cổ đại đã viết các văn bản chữ tượng hình của họ không có nguyên âm yếu và với một loạt các phụ âm không được tìm thấy trong bảng chữ cái hiện đại của chúng ta, vì vậy việc phát âm chính xác bất kỳ tên Ai Cập nào phải là một vấn đề phỏng đoán hợp lý. Trong suốt cuốn sách này, phiên bản đơn giản nhất và được chấp nhận rộng rãi nhất của mỗi tên riêng đã được sử dụng, tất cả các dấu phụ đã được bỏ qua và các tên được bao gồm trong các trích dẫn trong văn bản, càng nhiều càng tốt, được tiêu chuẩn hóa nhằm cố gắng tránh sự rối rắm không cần thiết và khó hiểu cho người đọc không chuyên.

CHƯƠNG 1

BỐI CẢNH: AI CẬP VAO ĐẦU VƯƠNG TRIỀU 18

Ta đã dựng lên những gì đã đổ nát, ngay từ lần đầu tiên khi bọn châu Á có mặt ở Avaris Xứ Bắc, với những bè lũ lang thang lật đổ những gì đã được tạo ra; chúng cai trị mà không có Re…

Công chúa Hatchepsut được sinh ra vào đầu Vương triều thứ 18, vào thời điểm khi Ai Cập mới thống nhất vẫn còn quay cuồng trước tình cảnh bất thường khi nhìn thấy các vị vua người nước ngoài ngồi trên ngai vàng thần thánh của các pharaoh. Mặc dù Vương triều thứ 18 sẽ phát triển thành một thời kỳ thịnh vượng chưa từng có của Ai Cập, nhưng nỗi nhục nhã sâu sắc của một trăm năm bị người Hyksos cai trị và tình trạng bất ổn trong xã hội lan rộng của Thời kỳ Trung gian thứ hai chưa hề bị lãng quên hoàn toàn, và mối quan tâm đến công cuộc tái tạo những ngày Hoàng Kim của Vương quốc Cổ và Trung – đặc biệt là Vương triều thứ 12 huy hoàng – đã trở thành chủ đề then chốt thường xuyên của đời sống chính trị đầu Vương triều 18.

Vương triều thứ 12 đã đại diện cho một thời kỳ vàng son thực sự. Phục hồi từ một khởi đầu hơi khớp sợ, trong đó có vụ ám sát người sáng lập, Amenemhat I, sau gần hai trăm năm hòa bình và ổn định nội bộ, hiện được nhiều người coi là một trong những thời kỳ cổ điển của nền văn minh Ai Cập. Trong suốt triều đại, một loạt các pharaoh mạnh mẽ đã cai trị một vùng đất thống nhất từ ​​thủ đô mới Itj-Tawy (một thành phố phía bắc nằm đâu đó giữa thủ đô của Vương quốc Cũ Memphis và cửa sông Faiyum), vị trí thống trị tuyệt đối của họ được củng cố rất nhiều bởi một loạt các cải cách dịch vụ dân sự được lên kế hoạch kỹ lưỡng nhằm hạn chế quyền lực các quý tộc giàu có, những người mà, sau thời gian được quyền tự trị địa phương trong Thời kỳ Trung gian thứ nhất, có thể đã bị cám dỗ để thành lập các triều đại độc lập của riêng mình. Chính sách đối ngoại táo bạo của Vương triều thứ 12 đã thành công, và các đường dây liên kết thương mại và ngoại giao được thiết lập với cả Aegean và Cận Đông khi Ai Cập từ bỏ truyền thống sống cô lập của mình và bắt đầu đóng một vai trò nổi bật hơn trong thế giới Địa Trung Hải. Có những cuộc thám hiểm gan dạ, bao gồm chuyến thăm dò vùng đất Punt tuyệt đẹp, và những cuộc chinh phạt quân sự quan trọng trong một động thái hiếu chiến mới đối với phía Nubia đã đẩy ranh giới của Ai Cập vào sâu hơn phía nam. Trong biên giới mới được củng cố của Ai Cập, sa mạc phía đông đã được khai thác tài nguyên thiên nhiên trong đó có vàng, Sinai được khai thác để lấy đá ngọc lam và đồng và Faiyum được phát triển ngành nông nghiệp thông qua một loạt các kỹ thuật tưới tiêu sáng tạo.

Sự kết hợp giữa sự giàu có ngày càng tăng của người Ai Cập với sự kích thích của nước ngoài và sự ổn định chính trị trong suốt thời kỳ Trung Vương quốc đã cho phép nghệ thuật phát triển mạnh mẽ. Đây đã trở thành thời kỳ của ngôn ngữ và văn học Ai Cập cổ điển khi nhiều văn bản, bia ký và truyện kể nổi tiếng nhất được sáng tác. Các tác phẩm của Vương quốc Cổ ngắn gọn, trang trọng và có phong cách rất tự giác. Các sáng tác thời Trung Vương Quốc dài hơi hơn và trôi chảy hơn nhiều; những cuốn tự truyện được ghi trên tường các ngôi mộ tư nhân cũng chứa nhiều thông tin hơn và giàu trí tưởng tượng hơn so với các bản văn của Vương quốc Cổ trong khi các tài liệu chỉ dẫn, hoặc Đào Luyện Trí tuệ, cho thấy một chủ nghĩa hiện thực mới nhấn mạnh rằng một hậu quả hỗn loạn sẽ lập tức áp đảo Ai Cập khi vắng mặt một vị vua mạnh mẽ. Tuy nhiên, chính sự phát triển của tiểu thuyết tự sự mà văn học Trung Vương quốc được tôn vinh một cách chính đáng nhất. Chuyện châm biếm thương mại, Chuyện về người nông dân hùng hồn, Chuyện về người thủy thủ bị đắm tàu ​​và Chuyện về Sinuhe đều xuất xứ từ thời kỳ này, cho phép chúng ta theo dõi sự phát triển của thể loại này từ những cuộc phiêu lưu hành động đơn giản được lấy trực tiếp từ cửa miệng theo cách truyền thống (ví dụ: Chuyện về người thủy thủ bị đắm tàu – một câu chuyện về con tàu đắm và cuộc phiêu lưu theo phong cách riêng của các chàng trai (trong đó có một sinh vật giống rắn tuyệt vời) đến những câu chuyện kích thích tư duy hơn được kể theo phong cách pha trộn ngày càng phức tạp hơn (ví dụ: Chuyện về Sinuhe – cuốn tự truyện hư cấu của một nhà quý tộc bị lưu đày khỏi Ai Cập và khao khát được trở về nhà).

Các nghệ sĩ và nhà điêu khắc đã nhanh chóng phản ánh tâm trạng mới của sự kết hợp giữa hoài niệm và chủ nghĩa hiện thực vào tác phẩm của họ, trong khi vẫn dựa trên phong cách truyền thống và được hình thức hóa cao của Vương quốc Cổ, thể hiện mong muốn được khắc họa chủ thể có bản sắc thay vì theo khuôn mẫu. Các nhà điêu khắc hoàng gia bây giờ cảm thấy được tự do khắc họa một pharaoh có tính người hơn; Khi chúng ta nhìn vào chân dung các vị vua thuộc Vương triều thứ 12 là Senwosret III và Amenemhat III, chúng ta thấy những người đàn ông mạnh mẽ, nghiêm túc và có phần mệt mỏi đang cố gắng thực hiện vai trò thần thánh của mình với mức độ nghiêm khắc vương giả, một sự tương phản rõ rệt với hình ảnh một vị thần toàn năng thanh thản và xa xôi – các vị vua của Vương quốc Cổ.

1

Đồng thời, lãnh vực điêu khắc tư nhân được mở rộng khi các người bình thường bắt đầu được thể hiện dưới nhiều hình thức sáng tạo khác nhau thay vì bị hạn chế như các bức tượng được tìm thấy trong các lăng mộ thời Vương quốc Cổ. Rất ít bức tranh hoàng gia còn sót lại từ thời Trung Vương quốc nhưng trong những ngôi mộ tư nhân ở Beni Hassan cuộc sống đầy màu sắc sôi động hẳn lên với những hình vẽ cảnh đấu vật, chiến tranh và khiêu vũ, giờ đây tham gia vào những khung cảnh trước đây bị hạn chế trong các lăng mộ của Vương quốc Cổ.

2

Cảnh đấu vật trong lăng mộ ở Beni Hassan

Các dự án xây dựng quy mô lớn được đề xuất trong Vương triều thứ 12, với hình thức kim tự tháp được tái sử dụng như một phương tiện mô phỏng tiền lệ của Vương quốc Cổ và nhấn mạnh địa vị của nhà vua và mối liên hệ của ông với thần Mặt trời Re. Tuy nhiên, bây giờ không có một công trình công cộng nào có quy mô lớn như các kim tự tháp Giza. Thay vì đi theo những ông vua tiền nhiệm tập trung nỗ lực vào một đài kỷ niệm đơn độc, các quốc vương của Vương quốc Trung đã quyết định ban phát tài nguyên của họ một cách rộng rãi hơn. Mức độ mà các vị vua này sẵn sàng xây dựng các công trình bổ sung bằng đá cho các ngôi đền bằng gạch bùn hiện có ở các tỉnh là không rõ ràng vì mức độ tái tạo mô hình quá lớn xảy ra trong Vương triều thứ 18, nhưng bằng chứng, nơi nó còn sót lại, cho thấy một chương trình xây dựng trong đó sự độc quyền hoàng gia đối với các tòa nhà bằng đá vươn đến những góc hẻo lánh nhất ở các tỉnh lỵ xa xôi nhất của Ai Cập. Thật không may, nhiều ngôi đền quan trọng từ thời kỳ này đã bị phá hủy một cách cố ý để các khối đá quý của chúng có thể được tái sử dụng trong các tòa nhà sau này, và kiến ​​thức của chúng ta về kiến ​​trúc Vương triều 12 do đó đã bị hạn chế một cách đáng buồn. Ví dụ nổi tiếng nhất là Nhà Nguyện Trắng của Senwosret I. Tòa nhà tuyệt đẹp này, thể hiện sự điêu luyện trong kỹ thuật chế tác đá trong đó một số hình chạm khắc phù điêu ấn tượng, đã được tháo dỡ để lấp đầy một cột tháp do Pharaoh Amenhotep III thuộc Tân Vương quốc xây dựng tại Karnak. Sau khi tái thiết một cách cẩn thận, nó hiện đã được khôi phục lại vẻ đẹp rực rỡ trước đây và được trưng bày vĩnh viễn trong Bảo tàng Lộ Thiên tại Karnak (hình dưới).

3

Tất cả những gì tốt đẹp cũng sẽ đến hồi kết thúc. Cuối cùng, gia đình hoàng gia, cho đến giờ đã cung cấp một trong những đường dây liên tục dài nhất từng thống trị Ai Cập, thấy mình không có người thừa kế ngai vàng là nam giới. Vì vậy Amenemhat IV, vị vua cuối cùng của Vương triều thứ 12, tất yếu phải được kế vị bởi chị gái hoặc em gái cùng cha khác mẹ của mình là Sobeknofru, người đã trị vì với tư cách là Nữ hoàng của Thượng và Hạ Ai Cập trong ba năm, mười tháng và hai mươi bốn ngày trước khi chết theo cách tự nhiên khi còn nhậm chức. Cái chết của bà đã kết thúc triều đại của mình. Mặc dù về lý thuyết, không có gì ngăn cản một người phụ nữ trở thành pharaoh và trên thực tế, dường như không có sự phản đối nào đối với việc Sobeknofru đảm nhận vai trò này – mặc dù tất nhiên, chúng ta rất khó phát hiện bất kỳ sự chống đối không thành công nào – việc rời xa truyền thống hoàng gia như thế rõ ràng là một dấu hiệu cho thấy có điều gì đó rất sai trái trong gia đình hoàng gia, và hiện nay triều đại Sobeknofru thường được xem là một nỗ lực dũng cảm nhưng bất lực để kéo dài dòng dõi hoàng gia đang hấp hối. Một quan điểm khác, cho rằng bà ấy hẳn đã chiếm lấy vương miện sau một cuộc tranh chấp gay gắt trong gia đình, hiện phần lớn không còn được đồng thuận vì thiếu bằng chứng. Việc tên Sobeknofru được đưa vào bảng danh sách vua ở Sakkara có thể được coi là một dấu hiệu tốt cho thấy triều đại của bà được cả người dân lẫn các sử gia chấp nhận và đã lưu giữ ký ức về bà.

Sobeknofru được kế vị bởi một vị vua không liên quan, và Vương triều thứ 13 bắt đầu tuân theo truyền thống của Vương triều 12. Tuy nhiên, không có gia đình hoàng gia hùng mạnh nào được thành lập và có rất ít sự liên tục rõ ràng giữa các quốc vương theo truyền thống được chỉ định cho thời kỳ này. Thay vào đó là một loạt các vị vua chỉ ngồi trên ngôi trong thời gian ngắn và các tể tướng ngày càng mạnh của họ đã trị vì một Ai Cập đang dần bị chia cắt, và đất nước dần dần tan rã thành một liên kết lỏng lẻo giữa các thành phố bán độc lập. Một loạt các trận lũ kinh hoàng tại sông Nile vào thời điểm này, và hậu quả là nền kinh tế Ai Cập gặp căng thẳng, có vẻ là một điềm báo rất xấu. Sự lên xuống thường xuyên của sông Nile được coi là một dấu hiệu chung cho thấy tất cả đều tốt đẹp bên trong Ai Cập và các nhà cai trị của Vương triều thứ 13 hẳn đã dễ dàng nhớ đến các trận lũ lụt rất thấp đã báo trước sự sụp đổ của Vương quốc Cổ. Họ ắt hẳn sẽ làm tốt để chú ý đến điềm báo. Cuối Vương triều thứ 13 chứng kiến ​​sự kết thúc ‘chính thức’ của thời kỳ Trung Vương quốc và bắt đầu giai đoạn thứ hai của thời kỳ Trung gian thứ hai (các Vương triều từ 14 đến 17), một giai đoạn được ghi nhận là một tình trạng tồi tệ, mất đoàn kết dân tộc và ách cai trị của ngoại bang nằm giữa thời kỳ ổn định được ghi chép rõ ràng thời Trung Vương quốc và Tân Vương quốc.

TUTIMAIOS. Trong Vương triều của ông, vì nguyên nhân gì mà tôi không biết, hơi thở của thần linh phà mạnh vào chúng tôi; và bất ngờ từ phía đông bọn xâm lược thuộc chủng tộc mờ mịt đã ồ ạt xông vào đất đai chúng tôi với niềm tin chắc thắng… Chủng tộc của họ nói chung được gọi là Hyksos, nghĩa là ‘vua-người chăn cừu’, vì Hyk trong ngôn ngữ thiêng liêng có nghĩa là ‘vua’ và sos trong cách nói thông thường là ‘người chăn cừu’.

Trong suốt thời kỳ Trung Vương quốc đã có một làn sóng dai dẳng những người di cư ‘châu Á’ từ phía đông, các dân tộc Semitic (nói tiếng Do Thái cổ và Ả Rập) bị thu hút bởi sự thịnh vượng ngày càng tăng của Ai Cập và bản thân họ đang chịu áp lực về phía tây từ người nhập cư xa hơn về phía đông; đây là thời kỳ dịch chuyển dân số trên toàn bộ khu vực Đông Địa Trung Hải. Những người mới đến đã được dân địa phương chấp nhận và hòa nhập một cách yên bình vào các thị trấn và làng mạc hiện có ở miền bắc Ai Cập. Tuy nhiên, trong Vương triều thứ 13, những nhóm này bắt đầu hình thành các cộng đồng độc lập và đáng kể ở vùng đồng bằng sông Nile. Cùng lúc đó, bọn cai trị địa phương đầy dã tâm đang dần nắm quyền khi đoàn kết dân tộc bắt đầu rạn nứt. Từ từ đất nước tự phân tán thành ba khu vực không tin tưởng lẫn nhau, mỗi khu vực được cai trị đồng thời bởi các triều đại khác nhau. Vương quốc Kerma của người Nubia phát triển ở cực nam, một nhóm nhỏ người Ai Cập độc lập kiểm soát miền nam Ai Cập từ Thebes (Vương triều thứ 17), và phía bắc bị cai trị bởi một nhóm quân xâm lược Palestine được gọi là Hyksos (Vương triều thứ 15) và các chư hầu Palestine của họ. (Vương triều thứ 16).

Chính những kẻ xâm lược Hyksos đã gây ấn tượng sâu sắc nhất trong lịch sử, họ cai trị miền bắc Ai Cập trong hơn một trăm năm và chiếm thị trấn phía đông châu thổ Avaris ( tên Ai Cập là Hwt W’rt, nghĩa đen là ‘Dinh thự Lớni’ hoặc ‘Dinh thự Quản trị’, hiện nay là Tell ed-Daba) làm thủ đô của họ. Ở phía nam, những người cai trị Thebes sinh ra ở bản địa vẫn độc lập và các mối quan hệ giữa bắc và nam ban đầu rất hòa thuận, nếu không nói là tin cậy: các vị vua phương Nam có thể thuê đất chăn thả từ những người hàng xóm Hyksos và thậm chí có một số bằng chứng cho thấy Herit, con gái vị vua cuối cùng của Hyksos, Apophis, có thể đã kết hôn với gia đình hoàng gia Thebes. Người Hykso chắc chắn có quan hệ tốt với những người cai trị Kerma ở Nubia, đến mức vua Apophis nói trên, vào cuối thời trị vì 33 năm của mình khi không còn thân thiện với nước láng giềng kề cận, cảm thấy thoải mái xúi giục người Nubia xâm lược vương quốc Thebes để phân tán hướng lực lượng của họ, nhằm bảo vệ vị trí của chính mình ở phía bắc. Một lá thư do Apophis viết cho Vua Kush và tình cờ được binh sĩ trung thành với Vua Kamose của Thebes chặn lại, kể chi tiết về âm mưu của hắn:

Ngài không nhìn thấy Ai Cập đã làm gì chống lại ta… Ông ta [Kamose] chọn hai vùng đất để tàn phá, đất của ta và của ngài, và ông tạ đã phá hủy chúng. Hãy đến, lên phía bắc ngay lập tức, đừng rụt rè. Thấy chưa, ông ấy đang ở đây với ta… Ta sẽ không để ông ấy đi cho đến khi ngài đến.

Truyền thuyết Ai Cập được sử gia Ai Cập Manetho điển hình coi Hyksos là một nhóm quân xâm lược tàn bạo, thiếu văn minh và triều đại của họ là một thời kỳ hỗn loạn và tăm tối, không bao giờ lặp lại:

… Bằng lực lượng chính, họ [người Hykso] dễ dàng chiếm giữ [Ai Cập] mà không đánh một đòn nào, và đã chế ngự được những kẻ cai trị trên vùng đất, sau đó họ đốt cháy các thành phố của chúng ta một cách tàn nhẫn, san thành bình địa đền thờ các vị thần và đối xử với tất cả dân bản xứ với sự thù địch tàn ác, tàn sát một số người và bắt vợ con những người khác làm nô lệ. . .

Lời than thở này, ở một mức độ lớn, chỉ đơn thuần biểu hiện nỗi kinh hoàng thông thường khi nhận ra rằng người ngoại bang vốn bị khinh thường và kém văn hóa thực sự có thể chinh phục được Ai Cập hùng mạnh. Phóng đại là một việc được chấp nhận và thậm chí được mong đợi đối với những tường thuật lịch sử và người Ai Cập không thấy có hại gì khi diễn giải lại quá khứ của mình nếu cần thiết. Niềm tin sâu sắc rằng đất nước mình chỉ có thể phát triển dưới thời một pharaoh Ai Cập được thần thánh chỉ định chắc chắn đủ mạnh để biện minh cho sự bóp méo hồ sơ lịch sử trong trường hợp này. Bằng chứng khảo cổ học, rõ ràng là ít thiên vị hơn, cho thấy người Hykso bị ghét bỏ không gây ra những hủ tục dã man ngoại bang cho thần dân mới của mình, và đã nỗ lực thích nghi với phong tục của đất nước mà họ trị vì. Các nhà cai trị mới vẫn giữ một số truyền thống của riêng họ: phong cách kiến ​​trúc và kiểu dáng đồ gốm giờ thể hiện ảnh hưởng của vùng Cận Đông rõ rệt, nữ thần chiến tranh Anath hay Astarte nhanh chóng được đưa vào đền thờ Ai Cập với tư cách là ‘Nữ nhân ở Thiên đường” và phối ngẫu của bà, vị thần Ai Cập Seth, trở thành vị thần chính. Tuy nhiên, ở hầu hết các khía cạnh khác, người Hyksos đã phủ nhận bản sắc riêng của họ, với lòng nhiệt thành của người mới cải đạo, họ đắm mình trong nền văn hóa Ai Cập, sử dụng chữ viết tượng hình, tôn tạo các ngôi đền địa phương, sao chép các hình thức thời Trung Vương quốc, chế tạo đồ trang sức cẩm thạch hình bọ hung và thậm chí biến mình thành các pharaoh phong cách Ai Cập bằng cách lấy tên mình ghép với ‘Re’, tên của thần mặt trời Ai Cập. Không mang đến thảm họa kinh tế cho Ai Cập, vùng đất của họ được quản lý một cách hiệu quả, tận dụng tốt khuôn khổ hành chính đã có sẵn thời Trung Vương quốc và các quan chức gốc Ai Cập sẵn sàng làm việc cho người chủ mới để đảm bảo khu vực châu thổ được thịnh vượng dưới quyền cai trị của họ. Những lợi ích lâu dài về mặt vật chất mà sự can thiệp ngoại bang mang lại giờ đây dường như rất rõ ràng. Dưới sự cai trị của Hyksos, Ai Cập nhanh chóng mất đi phần lớn tính cô lập truyền thống khi các liên kết thương mại và ngoại giao được thiết lập với một loạt các vương quốc Cận Đông, và kết quả là làn sóng nhập khẩu ngoại lai và thiết thực vừa kích thích nền kinh tế vừa truyền cảm hứng cho các nghệ sĩ và nghệ nhân Ai Cập. Ai Cập được hưởng lợi từ việc tiếp cận các kỹ thuật mới làm đồ đồng, đồ gốm và dệt vải mới; đã có những loại cây lương thực mới thú vị được thử nghiệm, và thậm chí cả một giống bò lưng gù chưa từng được biết đến trước đây. Điều quan trọng nhất là sự đóng góp của Hyksos vào các thiết bị quân sự truyền thống của Ai Cập; chính những cải tiến của họ, kết hợp với việc tổ chức lại cơ cấu quân đội vào đầu Vương triều 18, đã trực tiếp dẫn đến sự phát triển của đội quân chiến đấu hiệu quả và gần như bất khả chiến bại của Đế chế Vương triều 18 và 19. Nhà Hyksos đã giới thiệu các dạng pháo đài phòng thủ mới, các loại vũ khí mới (dạng dao găm và kiếm hiệu quả hơn và cung phức hợp mạnh có tầm bắn xa hơn nhiều so với cung đơn giản kiểu cũ) và khái niệm về áo giáp để bảo vệ binh sĩ. Người lính – trong thời Cổ và Trung Vương quốc khi lâm trận chỉ mặc bộ váy ngắn nhất hoặc quấn khố và được bảo vệ bởi một chiếc khiên da bò dài và cồng kềnh – giờ đã được cấp áo chẽn bảo vệ và một chiếc khiên cong nhẹ hơn, dễ cầm nắm hơn. Tuy nhiên, phần cải tiến quan trọng nhất của họ là chiến mã có dây đai và chiến mã xa hai bánh, một loại phương tiện nhẹ và cơ động cao, được điều khiển bởi một người cầm lái và một người chiến binh được trang bị giáo, khiên và cung, nhanh chóng trở thành một trong những những kỹ thuật tác chiến quý giá nhất của quân đội Ai Cập (hình dưới).

4

Ở phía nam, Vương triều Thebes thứ 17 cai trị Ai Cập từ Elephantine đến Cusae (el-Qusiya, Trung Ai Cập), tiếp tục thành tựu nhiều truyền thống hoàng gia thời Trung Vương quốc nhưng với quy mô nhỏ hơn và điều chỉnh để phù hợp với điều kiện địa phương; các kim tự tháp hoàng gia của Vương triều thứ 17 là

5

Hình 1.1 Cartouche ghi tước hiệu Vua Sekenenre Tao II

các cấu trúc gạch bùn tương đối nhỏ nằm trên đỉnh của những ngôi mộ cắt bằng đá. Khi vương triều phía nam dần dần được củng cố, mối quan hệ giữa nam và bắc dần xấu đi, và chiến tranh mở đã nổ ra khi Vua Sekenenre Tao II, ‘Người Dũng Cảm’, lên ngôi ở Thebes. Một câu chuyện tuyệt vời vào thời Vương quốc Mới nhằm giải thích sự bùng nổ của sự thù địch bắt đầu bằng bối cảnh:

Đã từng xảy ra trường hợp đất nước Ai Cập lâm vào cảnh khốn cùng, vì không có chúa tể nào làm vua [duy nhất]. Một ngày trôi qua khi Vua Sekenenre [vẫn chỉ là] người cai trị Thành phố Phía Nam. Khốn khổ ở thị trấn của người châu Á, vì ông hoàng Apophis ở Avaris, và toàn bộ vùng đất đã cống nạp cho ông, cung cấp thuế của họ [và] thậm chí phía bắc mang lại mọi [loại] sản phẩm tốt của châu thổ.

Chúng ta được biết về việc Vua Apophis của Hyksos, hiện là một người sùng bái nhiệt thành vị thần Seth đầu thú kỳ dị và cho đến nay vẫn chưa được nhận diện, quyết định gây ra một vụ xích mích bằng cách đưa ra một yêu cầu lố bịch đầy ác ý. Một người đưa tin được gửi về phía nam, và y chuyển lời phàn nàn đến Sekenenre Tao đang kinh ngạc:

Hãy đuổi các con hà mã khỏi con kênh nằm ở phía đông Thành phố của ngài bởi vì chúng làm ta mất ngủ vào ban ngày hay ban đêm.

Sekenenre được cho là không nói được nên lời với yêu cầu bất hợp lý này: không sao có thể tưởng tượng được rằng hà mã ở Thebes lại có thể tạo ra quá nhiều tiếng ồn khiến Apophis không ngủ được ở Avaris, cách Thebes khoảng 500 dặm phía hạ lưu. Thật không may, phần cuối của câu chuyện đã bị thất lạc, và chúng ta không biết cuối cùng nhà vua đã trả lời như thế nào, hoặc liệu Apophis có tiếp tục đưa ra những yêu cầu thái quá hơn nữa hay không.

Các bằng chứng khảo cổ học chân thực hơn xác nhận rằng Sekenenre Tao II đã chiến đấu chống lại người Hyksos ở Trung Ai Cập trước khi chết vì những vết thương trong trận chiến: xác ướp của ông đã được nhà Ai Cập học người Pháp Gaston Maspero mở ra vào năm 1886 và được kiểm tra bởi nhà giải phẫu nổi tiếng G . Elliot Smith vào năm 1906. Xác ướp rõ ràng là một cảnh tượng đau lòng, với những vết thương kinh khủng ở đầu và cổ do những cú đánh liên tục từ một chiếc rìu chiến Hyksos bằng đồng:

Tất cả những gì còn lại bây giờ của Saqnounri Tiouaqen [Sekenenre Tao II] là một bộ xương bị hư hỏng nặng, nhiều mảng rời ra, được bao bọc trong một lớp da nâu sẫm mềm, ẩm, mềm dẻo, không hoàn hảo, có mùi cay nồng … xác ướp không được chỉnh sửa theo đúng tư thế như phong tục; đầu không được xếp thẳng trên thân mình, hai chân không duỗi ra hoàn toàn, và cánh tay và bàn tay bị giữ nguyên trong tư thế đau đớn trong cơn oằn oại của tử thần sau vụ tấn công chết người, bằng chứng rõ ràng được in trên khuôn mặt và hộp sọ bị dập nát.

Cơ thể được bảo quản kém cho thấy nhà vua đã được ướp xác vội vàng, không nhất thiết phải do những chuyên viên chính thức của hoàng gia. Sekenenre Tao II được kế vị bởi con trai của ông, Kamose, người đã cai trị trong hơn ba năm nhưng đã cố gắng giữ vững Thebes ở Trung Ai Cập. Sau khi nghiền ngẫm về tình huống không may đã chia cắt đất nước của ông – ‘Ta muốn biết phải sử dụng sức mạnh này của mình vào việc gì với một thủ lĩnh ở Avaris và một thủ lĩnh khác ở Kush, và ta ngồi hợp nhất với một người châu Á và một người Nubian’ – Kamose thực hiện một hành động có tính quyết định. Ông ta tiến về phía bắc tới Avaris và về phía nam đến tận Buhen, giành quyền kiểm soát các tuyến đường thương mại quan trọng trên sông và kêu gọi trả thù những kẻ được cho là đã cộng tác với kẻ thù, trước khi quay trở lại Thebes, nơi ông ghi lại những thành tích táo bạo của mình trên một tấm thạch bia ở đền Karnak

6

Hình 1.2 Cartouche của Vua Kamose

Hỡi kẻ châu Á hèn hạ và lòng dạ ác độc, ta sẽ uống rượu nho của vườn nho nhà ngươi mà tên Á Châu ta bắt được đã ép cho ta. Ta đã phá tan hoang nơi ở của ngươi và chặt cây cối của ngươi … Ta không để lại một tấc đất nào của Avaris mà không xóa sạch … Ta đã phá tan các thị trấn của chúng và đốt cháy nơi ở của chúng, biến thành đống đổ nát vĩnh viễn đáp lại những thiệt hại mà chúng đã gây ra cho Ai Cập, vì chúng đã phục vụ người châu Á và đã từ bỏ Ai Cập là tình nhân của chúng.

Kamose chết trẻ, có thể bị giết trên trận địa giống như cha mình, và đến lượt kế vị ngai vàng Thebes là người em trai Ahmose. Ahmose, ban đầu còn quá trẻ để chiến đấu, phải đợi hơn mười năm trước khi tiếp tục cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của mình. Chiến dịch thắng lợi của ông chống lại người Hyksos đã được ghi lại đầy đủ và có phần khát máu bởi một người lính cũng tên là Ahmose, con trai của một phụ nữ tên Ibana và một người lính tên Baba, người đến từ thị trấn el-Kab, miền nam Ai Cập. Trong cuốn tự truyện của mình, người lính Ahmose nhằm mục đích gây ấn tượng với chúng ta bằng hồ sơ quân sự dài dằng dặc mô tả lòng quả cảm bản thân cực độ của mình, trích dẫn trực tiếp từ một câu châm ngôn của Vương quốc Mới: ‘Tên tuổi người dũng cảm nằm trong thành tích anh ta đã làm được; nó sẽ mãi mãi không bị hủy diệt trong lòng đất. ”Chúng ta biết được rằng khi y đã ‘thành gia lập thất’ (nghĩa là đã lập gia đình và có lẽ là cha của một đứa con), y bắt đầu nghĩa vụ quân sự trên một con tàu mang tên Phương Bắc. Ahmose lên đường về phía bắc để chiến đấu cùng với pharaoh của mình ở Châu thổ, tham gia vào một số trận chiến đẫm máu và đóng một vai trò tích cực trong việc cướp phá Avaris. Người Hykso và đồng bào của họ đã hoạt động khắp miền bắc Sinai và trong khu vực Levant, và khi họ rút lui khỏi Ai Cập, Vua Ahmose đã đuổi theo họ về phía đông đến tây nam Palestine, cuối cùng bao vây thị trấn kiên cố Sharuhen, tiền đồn cuối cùng của Vương quốc Hyksos. Sau mỗi trận chiến thành công, Ahmose, con trai của Ibana, được thưởng

7

Hình 1.3 Cartouche của Vua Ahmose

chiến lợi phẩm, bao gồm cả những tù nhân mà y bắt được, và y tự hào thông báo với chúng ta rằng cuối cùng y đã được trao tặng ‘Vàng vì lòng Quả cảm’, một trong những danh hiệu quân sự cao nhất, cho lòng dũng cảm trong trận chiến. Những lời nói của y cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc hiếm hoi về cuộc đời đầy biến động của một người lính chuyên nghiệp đầu Vương triều 18:

Tôi đã được đưa lên thuyền ‘Phương Bắc’ vì sự dũng cảm của mình. Tôi đã đồng hành cùng Chủ nhân, cầu mong ông sống thọ, sống khoẻ và thịnh vượng, trên đôi chân của mình còn ngài đi khắp nơi trên cỗ xe của mình. Thị trấn Avaris bị bao vây. Tôi đã chiến đấu dũng cảm dưới sự chứng kiến ​​của hoàng thượng. Sau đó, tôi được thăng chức lên [thuyền] ‘Đứng lên ở Memphis’. Có một cuộc giao tranh trên mặt nước Padjedku ở Avaris và tôi đã đánh chiếm và mang về một bàn tay. Việc này đã được báo cáo với Quan Ban Thưởng Hoàng gia, nhờ đó tôi đã được thưởng vàng vì lòng quả cảm… Sau đó, lại xảy ra giao tranh ở Nam Ai Cập, phía nam thị trấn này. Tôi đã mang về một tên địch còn sống làm tù binh … Khi việc đó được báo cáo với Quan Ban Thưởng, tôi đã được thưởng vàng lần thứ hai.

Sau đó Avaris bị cướp bóc. Tôi đã mang về đồ cướp được một ông và ba phụ nữ, tổng cộng là bốn người. Hoàng thượng đã giao họ cho tôi làm nô lệ. Sau đó Sharuhen bị bao vây trong ba năm. Hoàng thượng đã cướp phá nó. Tôi đã mang về đồ cướp bóc là hai phụ nữ và một bàn tay. Vàng vì lòng quả cảm đã được trao cho tôi, và tôi đã được ban thưởng nô lệ như chiến lợi phẩm.

Sau khi trục xuất thành công bọn Hyksos, Ahmose hướng sự chú ý của mình về phía nam tới Nubia, nơi một lần nữa ông được anh lính trung thành của mình theo dõi:

[Hoàng thượng] đi thuyền về phía nam đến Khenthennefer để tiêu diệt Cung thủ xứ Nubia. Ngài tạo ra một đống lớn xác chết của bọn chúng. Con tôi mang về hai tên còn sống và ba bàn tay. Tôi lại được thưởng vàng và được ban cho hai nữ nô lệ. Hoàng thượng du ngoạn về phương bắc, trái tim bừng bừng lòng dũng cảm và thắng lợi. Ngài đã chinh phục người miền Nam và người miền Bắc.

Khi Ahmose viết về việc mang về một bàn tay, y đang đề cập đến việc cắt cụt bàn tay, hoặc đôi khi là dương vật của kẻ thù đã chết để có thể đánh giá quy mô thực sự của chiến thắng. Phương tiện đếm số quân địch bị giết này hiệu quả nhưng hãi hùng được chứng thực bằng một số hình vẽ trong đó các pharaoh chiến thắng của Vương quốc Mới đang đứng bên cạnh hàng đống bộ phận cơ thể người bị vứt bỏ.

8

Ahmose, vị vua đánh đuổi Hyksos để thống nhất Ai Cập

Sau cái chết của vua Ahmose, người lính Ahmose tiếp tục cuộc đời binh nghiệp của mình phục vụ ở Nubia dưới thời Amenhotep I và Tuthmosis I, đồng thời nhận được cả sự thăng tiến và quà tặng đất đai như phần thưởng cho lòng trung thành tận tụy của mình. Trong chiến dịch cuối cùng, y đã cùng Tuthmosis I đến Syria trước khi trở về hưởng chế độ hưu trí hậu hĩnh và chết một cách tự nhiên tại el-Kab, nơi cuối cùng y được chôn cất “trong ngôi mộ do chính tôi tạo ra”.

9

Một hình chạm khắc trong lăng mộ của chiến binh Ahmose

Một người lính thứ hai, cũng là người gốc el-Kab và có thể là bà con trẻ tuổi của Ahmose, con trai của Ibana, có tên hơi khó hiểu là Ahmose-Pennekheb, nói với chúng ta rằng Vua Ahmose đã tiến hành một chiến dịch châu Á thứ hai vào năm trị vì 22 của mình, chiến đấu ở ‘Djahy’, tên chung được sử dụng cho Syria và Palestine, và có thể vươn xa về phía đông đến sông Euphrates. Có lẽ chiến dịch thứ hai này đã cung cấp thêm bằng chứng thuyết phục rằng Ai Cập một lần nữa đã được thống nhất dưới một vị vua hùng mạnh và có thẩm quyền đối với các vấn đề quốc tế. Khu vực này, hiện đang chịu ảnh hưởng, nếu không muốn nói là chịu sự kiểm soát trực tiếp của Ai Cập, đã hình thành nền tảng của Đế chế Ai Cập mà sau này được phát triển bởi các vị vua Tuthmosis. Vào cuối năm trị vì, Ai Cập đã trở thành cường quốc ở Cận Đông và Ahmose được tự do củng cố biên giới phía nam của mình. Tại đây, như con trai Ahmose của Ibana đã có liên quan, một loạt các chiến dịch hiệu quả được tiến hành nhằm đảm bảo quyền kiểm soát đã được tái áp đặt đối với Nubia và ranh giới của Ai Cập được thiết lập lại dưới Thác Lớn Thứ Hai..

Vua Ahmose qua đời sau 25 năm cai trị để lại cho con trai mình, Amenhotep I, quyền kế thừa một đất nước thống nhất và an toàn trong biên giới của nó lần đầu tiên sau hơn hai trăm năm. Người Hyksos đã bị trục xuất khỏi phương bắc, người Nubia bị nghiền nát ở phía nam và Ai Cập đã mở rộng vùng Levant để bảo đảm mình khỏi bị tấn công lần nữa. Mặc dù Ahmose rõ ràng đang tiếp tục các chính sách đối ngoại do vua cha ngay từ đầu, đối với ông, ông đã có công trong việc quân sự hóa đất nước và loại khỏi Ai Cập những kẻ thù ngoại bang. Để tôn vinh thành tích tuyệt vời này, lịch sử theo truyền thống xếp Ahmose đứng đầu Vương triều thứ 18, mặc dù ông nội, cha và anh trai của ông vẫn được coi là các vị vua của Vương triều thứ 17. Sau đó diện thờ Ahmose được xây dựng quanh bia tưởng niệm ông tại Abydos.

Ahmose đã được tôn kính trên khắp đất nước vì sức mạnh của một vị vua chiến binh dũng mãnh. Bản lĩnh cá nhân và thành tích quân sự xuất sắc giờ đây đã trở thành tiêu chuẩn của một vị vua thành công, và các nhà cai trị kế vị của Vương triều 18 nhận thấy cần phải chú trọng nhiều đến sức mạnh quân sự và bản lĩnh của mình. Giờ đây, nhân dân gần như mong đợi một vị vua mới sẽ đánh dấu sự nghiệp của mình bằng cách lãnh đạo quân đội tiêu diệt kẻ thù truyền thống ở phía nam (Nubia) và phía bắc (bọn châu Á). Điều này không phải lúc nào cũng xảy ra, mặc dù vị vua đầu tiên của Ai Cập, Narmer, được biết đến nhiều nhất trong vai trò của một lãnh tụ quân sự. Nói chung, khi Vương quốc Cổ và Trung tiến triển và khi Ai Cập tiếp tục chính sách tự cô lập hóa khỏi phần còn lại của thế giới Địa Trung Hải, thì các lực lượng vũ trang ngày càng trở nên tầm thường, mặc dù đội cận vệ ngự lâm luôn được duy trì. Chiến đấu không được coi là một nghề đặc biệt cao quý, thường gắn liền với các thời kỳ nội chiến khi người Ai Cập đánh lại người Ai Cập, và hầu hết các vị vua không chọn khai thác khía cạnh quân sự trong việc cai trị của họ. Không có quân đội thường trực trong thời Vương quốc Cổ hoặc Trung Vương Quốc; nhà vua chỉ dựa vào sự sắp xếp kiểu dân quân không chính quy để tập hợp các binh lính chiến đấu lại với nhau bất cứ khi nào cần, và một nhóm nhỏ lính chuyên nghiệp quản lý những đội quân không thường xuyên này thường không phải là thành phần quan trọng của nhóm ưu tú cầm quyền.

Tuy nhiên, thời điểm người Hyksos bị trục xuất khỏi Ai Cập là thời điểm gia tăng hoạt động quân sự trên toàn bộ vùng Cận Đông. Ai Cập giờ đây đã hiểu quá rõ rằng mình rất dễ bị tấn công và rằng, với những lợi ích béo bở của mình ở Nubia và Palestine, nó không còn có thể vẫn xa lánh các vấn đề thế giới. Bằng cách duy trì một lực lượng chiến đấu hiệu quả, Ai Cập có thể trở thành đồng minh với những nước láng giềng gần gũi hùng mạnh và được vũ trang tốt như người Hittite, những người có thể bị cám dỗ để xâm lược một quốc gia giàu có mà yếu ớt.

10

Hình 1.4 Binh lính của Vương quốc cũ và mới

Thực tế là quân đội cũng có thể trở thành tâm điểm cho niềm tự hào dân tộc và tình đoàn kết là một phần thưởng bổ sung và nhanh chóng được khai thác. Bây giờ quân đội được coi là yếu tố tuyên truyền tuyệt vời cho công cuộc bảo vệ lãnh thổ của nhà vua, khuất phục người nước ngoài và ngụ ý, duy trì quyền kiểm soát của mình đối với nhân dân Ai Cập, và cảnh quy mô lớn mô tả nhà vua cưỡi trên cỗ xe của mình, gặp kẻ thù trên chiến trường hoặc thậm chí nắm tóc một vài kẻ thù, đã trở thành cách trang trí tiêu chuẩn cho các cổng và bức tường bên ngoài đền đài hoành tráng. Có thể hiểu được sự thay đổi thái độ này bằng cách xem xét cách tiếp cận của các chế độ quân chủ ngày nay đối với các hoạt động vũ trang. Ở nước Anh đầu thế kỷ mười tám, sau các cuộc nội chiến vào cuối thế kỷ mười bảy, quân đội đã bị người dân nói chung không tin tưởng sâu sắc, coi đó là phương tiện đàn áp quyền tự do bẩm sinh của người Anh. Do đó, hiếm khi người ta thấy một thành viên hoàng gia mặc quân phục bên ngoài chiến trường. Tuy nhiên, ngày nay, sau chiến thắng trong hai cuộc Thế chiến và qua trải nghiệm trực tiếp của những người phải làm nghĩa vụ quốc gia, quân đội được coi là hiển nhiên nắm vai trò lãnh đạo và đối với các thành viên nam trẻ tuổi của hoàng gia, có thể chấp nhận được việc mặc quân phục trong những dịp công cộng như đám cưới hoàng gia.

Quân đội Tân Vương quốc bổng nhiên được cả xã hội ưa chuộng và chấp nhận, các quân nhân nhanh chóng gia nhập chức tư tế và đảm nhiệm dịch vụ dân sự như một trong những nghề được chấp nhận đối với các tầng lớp có học và biết chữ. Việc tuyển dụng tăng vọt và trong thời thường xuyên có nhu cầu đối với các quản trị viên và quản trị viên có năng lực, những người có thể đảm bảo sự vận hành trơn tru của một tổ chức lớn và phức tạp. Bên cạnh những quan chức cũ dạn dày đã phấn đấu vượt qua các cấp bậc hành chính, giờ đây có thể tìm thấy các quan chức tương đương xuất thân là các sĩ quan ‘tốt nghiệp đầu vào’: các chuyên gia được đánh giá cao về kỹ năng hành chính hơn là khả năng chiến đấu của họ. Quân đội là một lựa chọn nghề nghiệp hấp dẫn cho những người, có tham vọng nhưng không biết chữ, bị từ chối gia nhập cơ quan hành chính hoặc tôn giáo, và chẳng bao lâu sau đó cả gia đình vào phục vụ trong quân đội trong nhiều thế hệ để đổi lấy quyền được thuê trang trại cho riêng mình. Quân đội được phục hồi và mở rộng đáng kể, được tổ chức thành các đơn vị bộ binh, chiến mã xa và các binh chủng chuyên biệt được huấn luyện cao hơn: ba hoặc bốn sư đoàn lên đến 5.000 người được chia nhỏ thành tiểu đoàn (500 người), đại đội (250 người), trung đội (50 người ) và tiểu đội (10 người) và một ‘Đại tướng quân’, thường là thái tử, được bổ nhiệm để nắm quyền chỉ huy chung. Pharaoh, tất nhiên, vẫn là người đứng đầu tuyệt đối của các lực lượng vũ trang.

Các vị vua của Vương triều thứ 18 đã công khai thừa nhận rằng những thành tựu quân sự của họ hoàn toàn là do sự vượt trội của các vị thần Ai Cập và đặc biệt là nhờ vị thần bảo hộ của họ, Amen xứ Thebes. Không phải ngẫu nhiên mà những cảnh tượng vĩ đại của pharaoh như một chiến binh khải hoàn được chạm khắc trên các bức tường của đền thờ, nhấn mạnh mối liên hệ giữa sự sùng bái và chiến thắng; như chính Hatchepsut đã khẳng định: ‘Ta đã làm điều này với tấm lòng kính yêu dành cho cha ta Amen… Ta biết thần tính của ngài. Ta đã hành động dưới sự chỉ huy của ngài. Chính ngài là người đã dẫn dắt ta, và ta không lập kế hoạch cho một công việc nào mà không có sự thực hiện của ngài.’

Trong suốt thời Vương quốc Cổ, vị thần nhà nước quan trọng nhất là Re, vị thần mặt trời có trung tâm thờ cúng Heliopolis nằm gần thủ đô Memphis, và có di tích nổi bật nhất là các kim tự tháp trong các nghĩa trang hoàng gia Memphite. Hình dạng của kim tự tháp được thiết kế để liên kết vị vua đã chết với vị thần sống, cho phép ông ta bước lên cầu thang đến tầng trời để ông ta có thể đi thuyền ngang qua bầu trời với Re mỗi ngày. Sự trỗi dậy của Trung Vương quốc tại Thebes hầu như không trực tiếp làm giảm sức mạnh của Re, mặc dù mối liên hệ của ngài với vương quyền giờ đây trở nên ít rõ ràng hơn nhiều so với thời Cổ Vương quốc. Các vị vua của Vương triều thứ 12 di chuyển thủ đô của họ lên phía bắc và đề xuất việc xây dựng các kim tự tháp liên quan đến Re, có lẽ là một phương tiện để nhấn mạnh địa vị hoàng gia mới giành được của họ. Tuy nhiên, họ vẫn giữ một lòng trung thành với các vị thần Thebes địa phương của họ và, như sự lựa chọn tên của họ – Amenemhat, ‘Amen Đi Trước’; Senwosret, ‘Người của Wosret (Nữ thần Ai Cập)’ – gợi ý, các vị thần tỉnh lỵ phía nam đang bắt đầu có tầm quan trọng quốc gia. Thời kỳ này chứng kiến ​​sự khởi đầu của sự phát triển quy mô lớn tại Đền thờ Amen ở Karnak. Khu phức hợp đền Karnak, nằm ở vùng ngoại ô phía bắc của Thebes, trong thời Tân Vương quốc, đã trở thành bộ sưu tập các công trình tôn giáo liên quan lớn nhất trên thế giới.

11

Hình 1.5 Vị thần Amen

Amen đã bắt đầu cuộc sống như một vị thần địa phương tầm thường và không màu mè được tôn thờ ở khu vực gần đó xung quanh Thebes. Tuy nhiên, ngài nhanh chóng trở thành vị thần quyền năng nhất trong Đế chế Ai Cập, được liên kết với vị thần quan trọng nhất của Vương quốc Cổ thành vị thần hợp nhất Amen-Re, được liên kết với vị thần sinh sản Min của thị trấn Coptos ở dạng cương dương của mình và được phong danh hiệu tuyệt đẹp ‘Vua của các vị thần và Chúa tể vương quyền hai vùng đất ‘. Về mặt hình tượng học, Amen thường xuất hiện với hình ảnh một người đàn ông mặc bộ đồ ngắn cũn cỡn và đội chiếc mũ lông vũ đặc biệt gồm hai chùm cao. Linh vật của ông là ngỗng và quan trọng hơn là cừu đực, và điện thờ trung tâm của ông là đền Karnak ở Thebes. Các vị thần Ai Cập thường không xuất hiện đơn lẻ mà là thành viên của các gia đình thần thánh gồm ba người; Phối ngẫu của Amen là nữ thần hình người Mut (‘Mẹ’), một phụ nữ có mối liên hệ với cả hai nữ thần mẹ Hathor và Bast và với nữ thần chiến tranh và bệnh tật có đầu sư tử hung dữ, Sekhmet, và con trai của họ là thần mặt trăng bản xứ, Khonsu. Điện thờ trung tâm của Mut là một ngôi đền ấn tượng nằm ngay phía nam của Amen tại Karnak, trong khi Khonsu được thờ trong một ngôi đền nằm ở phía bắc.

12

Hình 1.6 Nữ thần Mut

Sự thịnh vượng mới nổi lên của Ai Cập cho phép các pharaoh của Vương triều thứ 18 ban tặng các đền thờ cho các vị thần khác nhau trên khắp đất nước. Những kiến trúc mới này nay được xây bằng đá chứ không phải bằng gạch bùn và được thiết kế với mục đích tồn tại vĩnh viễn. Các thành phố lớn như Thebes và Memphis, trước đây là nơi có những nhà nguyện bằng gạch bùn tương đối khiêm tốn, giờ đây bị khống chế bởi các ngôi đền đá đồ sộ, màu mè. Những tòa nhà này thường được bao quanh bởi các cụm tòa nhà gạch bùn tương đối bình thường gồm các điện thờ và văn phòng hành chính nhỏ hơn, toàn bộ khu đền thờ được bao bọc bởi một bức tường gạch bùn cao và dày mang dáng vẻ quân đội, được thiết kế để ngăn chặn dân thường xâm phạm. Ngôi đền Ai Cập không giốngi một nhà thờ thời trung cổ; đó là nhà riêng của vị thần, dưới dạng một bức tượng, cư ngụ bên trong. Cổng đền hiếm khi được mở cho công chúng và, trong khi nhiều người dân thị trấn chắc hẳn đã làm việc trong các tòa nhà của đền thờ, ít người có thể biết được những bí ẩn xung quanh việc thực hành quốc giáo hàng ngày của họ. Thật vậy, mặc dù người dân thường có lòng sùng kính chính thức đổi với các vị thần nhà nước, nhưng họ có nhiều khả năng thờ cúng các vị thần địa phương ít cao sang và thân thiết hơn của họ, trong khi tôn giáo dân gian, bao gồm ma thuật, mê tín và phù thủy, đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt các cộng đồng nông dân.

Vào giữa Vương triều thứ 18, Thebes đã trở thành một trung tâm tôn giáo lớn với đầy đủ các ngôi đền và đền thờ không chỉ dành riêng cho Amen và gia đình của ngài mà còn cho toàn bộ các vị thần thấp kém hơn. Trên bờ phía tây của sông Nile, đối diện với Thebes, là các ngôi đền thờ cúng các vị vua, lăng mộ của các công dân ưu tú và ẩn mình trong Thung lũng các Vì Vua, là lăng mộ của chính các pharaoh. Tất cả các vị vua của Vương quốc Mới đã thể hiện sự tôn sùng tột độ của họ đối với Amen bằng cách cố gắng vượt qua những vị vua tiền nhiệm trong việc tôn tạo khu phức hợp Karnak, và một số lượng đáng kể của cải nước ngoài mới tìm thấy ở Ai Cập đã được chuyển hướng đến Đại Đền thờ Amen để nó thêm hoành tráng, trở thành một lực lượng kinh tế theo đúng nghĩa của nó và sử dụng một đội ngũ nhân viên ngày càng lớn để thực hành các nghi lễ cúng tế và quản lý danh mục đầu tư phong phú của vị thần. Quốc giáo Thebes giờ đây đã được tổ chức trên cơ sở chuyên nghiệp hơn nhiều và vị thần trước đây thuộc chốn riêng tư giờ đây đã bắt đầu thực hiện một loạt các đám rước được tổ chức tốt qua các đường phố, một truyền thống cho phép người dân tận hưởng một ngày nghỉ trong khi nhấn mạnh một cách tinh tế sự uy nghi và toàn năng của thần và ban tư tế của ngài.

Vào giữa thời Vương quốc Mới, các cơ sở tôn giáo đã kiểm soát ước tính một phần ba diện tích đất canh tác và sử dụng lao động khoảng hai mươi phần trăm dân số. Bản thân Amen không chỉ sở hữu những ngôi đền mà còn sở hữu những khoản đầu tư thế tục lớn như ruộng đồng, tàu thuyền, mỏ khoáng, mỏ đá, làng mạc và thậm chí cả những tù binh chiến tranh đã được chế độ quân chủ biết ơn tặng cho. Thu nhập từ những tài sản này, cùng với việc cúng dường hàng ngàn ổ bánh mì và hàng trăm bình bia cùng với các thực phẩm đắt tiền hơn bao gồm rượu và thịt, được thu thập bởi các đại diện trần thế của Amen và được sử dụng để trả công cho các nhân viên trong đền thờ. Số tiền dư được cất giữ trong những nhà kho bằng gạch bùn rộng lớn được giữ an toàn bên trong các bức tường của ngôi đền. Trong một thời gian rất ngắn, đền thờ Amen ở Karnak (hình dưới) chỉ đứng sau ngai vàng với tư cách là trung tâm ảnh hưởng kinh tế và chính trị ở Ai Cập.

13

Có lẽ chính chủ nghĩa hoài nghi hiện đại đã khiến các sử gia ngày nay đặt câu hỏi tại sao các vị vua của Vương triều thứ 18 lại cố tình chọn nâng việc sùng bái Amen lên địa vị thần thánh, qua đó tạo ra một chức vụ tư tế vô cùng giàu có và bán độc lập có khả năng đe dọa cho an nguy của ngai vàng. Câu trả lời đơn giản, cho rằng vì các vị vua có lòng sùng kính mạnh mẽ đối với vị thần bảo hộ của mình, cũng có thể là câu trả lời đúng. Tuy nhiên, người ta muốn xem sự trỗi dậy của Amen là một hành động có tính toán hơn, có lẽ nhằm mục đích giảm bớt ảnh hưởng của giáo phái Re ở phía bắc. Thúc đẩy một vị thần nhà nước Ai Cập mới, người đã thể hiện quyền lực của mình bằng cách mang lại thắng lợi trong trận chiến, có thể là một động thái khôn ngoan nhằm thống nhất một đất nước thiếu nhuệ khí đang phục hồi sau ách thống trị của ngoại bang. Nó chắc chắn sẽ giúp ích cho vị trí của vị pharaoh mới, với tư cách là vị trưởng tế của tất cả các vị thần, và thực sự là con trai của Amen, có quyền giải thích ý nguyện của vị thần theo cách ông thấy phù hợp. Bản thân Hatchepsut đã tận dụng rất tốt mối quan hệ hiếu thảo của mình với Amen, liên tục nhấn mạnh truyền thuyết về sự ra đời thiêng liêng của các vị vua để ủng hộ việc bà lên ngôi. Tuy nhiên, sự phụ thuộc lẫn nhau này có thể là một con dao hai lưỡi. Bất kỳ sự thất bại công khai nào của vị thần mới, chẳng hạn như từ chối trao thêm chiến thắng cho quân đội Ai Cập, có thể được coi là dấu hiệu trực tiếp cho thấy bản thân nhà vua đang không thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, và một chức vị tư tế đầy quyền lực và giàu có cuối cùng có thể mang lại sự sụp đổ cho một vị vua yếu kém hoặc bất tài.

Vào cuối Vương triều thứ 18, chế độ quân chủ bắt đầu cảm thấy bị thách thức bởi quyền lực và sự giàu có ngày càng tăng của việc sùng bái Amen. Amenhotep II, Tuthmosis IV và Amenhotep III đều bổ nhiệm những người trung thành của mình vào vị trí Tư tế Cao cấp nhằm cố gắng duy trì mức độ kiểm soát của hoàng gia đối với chức tư tế, trong khi Amenhotep III cũng bắt đầu chú ý hơn đến các vị thần khác của hệ thần Ai Cập, một phần trở lại hệ thần Vương quốc Cổ bằng cách liên minh lại chế độ quân chủ với thần Mặt trời, Re ở Heliopolis. Con trai của ông, Amenhotep IV (hiện được gọi là Vua dị giáo Akhenaten, ‘Phục vụ cho Aten’), đã đưa chính sách này đến mức cực đoan bằng cách bác bỏ hoàn toàn tôn giáo đa thần truyền thống và áp đặt một giáo phái độc thần mới dựa trên việc tôn thờ đĩa mặt trời, tức Aten, lên thần dân mình. Sự thay đổi căn bản này, bao gồm cả việc thành lập một thủ đô mới trên sa mạc ở Trung Ai Cập, là quá cực đoan đối với những người Ai Cập bảo thủ, và là mối đe dọa quá lớn đối với quyền lực của Amen. Nó phải đành cam chịu thất bại. Vào năm thứ 3 của triều đại kế vị của ông, các vị thần cũ, bao gồm cả. Amen, đã được phục hồi và vị vua mới đã đổi tên của mình từ Tutankhaten, ‘Hình ảnh sống của Aten’, thành Tutankhamen, ‘Hình ảnh sống của Amen’.

tất cả của cải đổ vào Thebes của Ai Cập, nơi các kho báu trong kho lớn nhất được đặt trong nhà các đàn ông ở Thebes, là thành phố của một trăm cổng và từ mỗi cổng xông ra chiến đấu là hai trăm chiến binh dũng mãnh với ngựa và chiến mã xa.

Các nhà cai trị đầu Vương triều thứ 18 đã phá vỡ truyền thống khi họ thành lập thủ đô của mình tại thành phố Thebes, quê hương của họ. Thebes, hay Thebai, là tên tiếng Hy Lạp của thành phố phía nam mà người Ai Cập chính thức gọi là Waset nhưng gọi đơn giản là ‘Thành phố’ (nghĩa đen là Niwt), và người Ai Cập hiện đại ngày nay gọi là Luxor. Thủ đô mới nằm trên bờ sông Nile ở tỉnh thứ 4 thuộc Thượng Ai Cập, đủ gần với cả Nubia và sa mạc phía Đông để có thể hưởng lợi từ các tuyến thương mại sinh lợi, và đủ xa thủ đô Memphis ở phía bắc để luôn duy trì trạng thái bán độc lập. Thebes từng là một thị trấn tỉnh lẻ không quan trọng trong suốt Vương quốc Cổ, và phải đến khi xảy ra bất ổn dân sự trong Thời kỳ Trung gian Thứ nhất, những người cai trị Thebes địa phương mới bắt đầu nắm được quyền lực và ảnh hưởng. Đến thời Ahmose, Thebes đã mở rộng thành một thành phố rộng lớn, và nghĩa địa Thebes ở bờ tây sông Nile đã trở thành nơi chôn cất chính của các pharaoh, gia đình của họ và các quan chức cấp cao hơn của triều đình. Tuy nhiên, trong suốt Vương triều thứ 18, gò thành phố cũ đã bị san bằng hoàn toàn để cho phép tái phát triển đền Karnak, và khu dân cư được xây dựng lại trên nền đất tương đối thấp, hiện nằm bên dưới mực nước ngầm và do đó đã biến mất khỏi hồ sơ khảo cổ học.

Điều kiện sống bên trong Thebes hẳn là, đối với tất cả, trừ những người giàu có nhất, hơi khó chịu trong những tháng hè nóng nực. Tình trạng thiếu đất xây dựng thường xuyên càng trở nên tồi tệ hơn do việc mở rộng các ngôi đền Karnak và Luxor, và không có chính sách quy hoạch chính thức nên khi thành phố mở rộng, các ngôi nhà ngày càng mọc san sát nhau, che khuất ánh sáng từ những con phố đông đúc và ngoằn ngoèo. Việc thiếu bất kỳ hình thức vệ sinh chính thức nào kết hợp với thói quen nuôi nhốt động vật trong nhà tạo ra một môi trường không mong muốn, đầy côn trùng gây hại cho những người dân không may. Tuy nhiên, mặc dù nhiều người bị buộc phải sống trong các thị trấn và thành phố quá đông đúc, Ai Cập vẫn là một quốc gia chủ yếu là nông thôn và phần lớn người dân Ai Cập sống tương đối lành mạnh khi làm nông dân trong các cộng đồng nông nghiệp nhỏ và không có tầm quan trọng về chính trị. Trong suốt thời Vương quốc Mới, người ta coi thường cuộc sống thành thị như một điều xấu xa cần thiết trong khi cuộc sống nông thôn – được lãng mạn hóa – được coi là lý tưởng. Cũng giống như những người dân thành phố hiện đại mơ ước sở hữu một ngôi nhà ở nhà quê, vì vậy các quan chức Ai Cập khao khát một biệt thự một tầng rộng rãi nằm trong khuôn viên của riêng mình, tránh xa sự nhộn nhịp, ồn ào và mùi xú uế của thành phố. Đối với các tầng lớp cao hơn trong xã hội, giấc mơ này có thể trở thành hiện thực và sẽ tiếp tục sang Thế giới bên kia; thiên đường của họ có hình dạng là ‘Cánh đồng Lau sậy’, một nơi nghỉ dưỡng bình dị ở nông thôn, nơi các quý tộc, vợ và con gái của họ sẽ ở đó vĩnh viễn để giám sát công việc của những người khác kém may mắn hơn mình.

Tuy nhiên, Thebes đã tự hào về một ví dụ của một cộng đồng được quy hoạch tốt. Ngôi làng Deir el-Medina của những người thợ, đơn giản là ‘Làng’ đối với cư dân của nó, được thành lập bởi Amenhotep I và phần lớn được xây dựng bởi Tuthmosis I nhằm cung cấp một cơ sở thuận tiện cho những người làm công việc đục đẽo và trang trí các lăng mộ hoàng gia gần đó trong Thung lũng các Vì Vua và Thung lũng các Hoàng hậu. Nằm ở Bờ Tây, đối diện Thebes và cách Sông Nile hơn 1,6 km, Làng cần thiết được xây dựng bằng sự kết hợp giữa đá và gạch bùn. Vì lý do này, Làng vẫn tồn tại trong khi những ngôi làng khác, được xây hoàn toàn bằng gạch bùn, đã đổ nát thành cát bụi. Giờ đây Làng có thể cung cấp cho chúng ta cái nhìn sinh động về cuộc sống hàng ngày của một bộ phận chuyên biệt thuộc tầng lớp trung lưu và lao động Ai Cập. Deir el-Medina đã trải qua hơn bốn trăm năm hoạt động liên tục của không chỉ những người thợ và người giám sát họ mà cả gia đình, những người phụ thuộc, vật nuôi và những người cung cấp các dịch vụ phụ trợ như thợ gốm, tăng lữ và công nhân giặt giũ. Đến Vương triều thứ 19, có tới bảy mươi gia đình – khoảng ba trăm người – sống trong những ngôi nhà hình chữ nhật khiêm tốn được bài trí với tất cả độ chính xác của một thành phố hiện đại Mỹ, trong một bốn bức tường quy định. Bên kia bức tường có một nghĩa trang, một tập hợp các nhà nguyện để thờ cúng tư nhân, và có thể là một ngôi làng phụ dành cho những người hầu và nông nô cấp thấp nhất. Hàng tháng, một nhóm công nhân nam sẽ rời Làng và đi đến Thung lũng các Vì Vua, nơi họ trú ngụ tạm thời trong tối đa 27 ngày làm việc. Trở lại Làng, cuộc sống hàng ngày vẫn tiếp tục như ở bất kỳ thị trấn hay thành phố bình thường nào của Ai Cập miễn là nhà vua có thể cung cấp khẩu phần ăn coi như tiền công lao động. Trong Vương triều thứ 18, một thời kỳ kinh tế hùng mạnh và quản lý hiệu quả, Làng của những người thợ đã hoạt động tốt.

Mặc dù Thebes có thể được coi là thủ đô nhà nước mới, và chắc chắn là thủ đô tôn giáo mới, ý tưởng về một thành phố chiếm ưu thế duy nhất giờ đây không còn quan trọng nhiều so với thời Vương quốc Cũ khi Ai Cập bị cai trị từ thành phố phía bắc Memphis. Memphis vào thời điểm đó không chỉ là thành phố lớn nhất của Ai Cập, mà còn là nơi ở chính của hoàng gia và trung tâm hành chính, và gần đó là cả khu an táng hoàng gia và trung tâm giáo phái lớn Re. Theo nhiều cách, vị trí địa lý của nó đã khiến Memphis trở thành một thành phố thủ đô phù hợp hơn nhiều so với Thebes. Nằm ở ngã tư giữa hai khu vực truyền thống Thượng (Nam) và Hạ (Bắc, hoặc Châu thổ) Ai Cập, Memphis có được sự liên lạc tuyệt vời với cả hai phía bắc và nam. Mặc dù là một thành phố nội địa, Memphis, trên sông Nile, là địa điểm của các bến tàu hoàng gia, và thành phố phát triển mạnh mẽ như một trung tâm thương mại hàng hải. Hơn nữa, Memphis là một căn cứ lý tưởng cho quân đội. Sau các chiến dịch phía nam của Tuthmosis I, Nubia, mặc dù thường xuyên nổi dậy, nhưng không có mối đe dọa thực sự nào đối với sức mạnh Ai Cập. Mối nguy hiểm thực sự được cho là đến từ Levant, nơi các thành phố bán độc lập đang bắt đầu đoàn kết dưới các lời hô hào của những người cai trị quyền lực xứ Kadesh, Mitanni và Hittite. Chúng ta biết rằng Tuthmosis I đã xây dựng một cung điện / doanh trại lớn tại Memphis, và có vẻ như trong suốt Vương triều 18, bộ máy hành chính nhà nước vẫn bị kiểm soát ở một mức độ lớn từ thành phố đó. Thật không may, rất ít Memphis cổ đại còn tồn tại được khai quật.

Vì các nhà cai trị của Vương triều thứ 18 từ chối chôn chân vào một kinh đô duy nhất, họ không giới hạn mình trong một cung điện chính. Thay vào đó, thông qua một triều đình di động, có lẽ được truyền cảm hứng từ trải nghiệm các chiến dịch quân sự, họ đi kinh lược đất nước với một đoàn tùy tùng nhỏ, đi bằng đường thủy để kiểm tra và áp đặt quyền kiểm soát trên các khu vực khác nhau và dừng chân tạm trú trong các cung điện ngắn hạn được gọi là ‘Nơi neo đậu của Pharaoh ‘, thường chỉ lớn hơn một chút so với những ngôi nhà nghỉ công phu nằm ở các điểm chiến lược dọc theo sông Nile. Cuộc hành trình từ Memphis đến Thebes có lẽ sẽ mất từ hai đến ba tuần và điều đó có nghĩa là các thành viên ít di động hơn trong gia đình hoàng gia, bao gồm phần lớn phụ nữ, con cái và các người hầu của họ, thường ở lại trong hậu cung cố định – cách xa các dinh thự chính của hoàng gia. Đến Vương triều thứ 19, đất nước thậm chí còn trở nên phi tập trung hơn. Thủ đô chính thức lúc đó là Pa-Ramesses ở vùng Châu thổ nhưng trung tâm dân cư lớn nhất vẫn là Memphis, trong khi Thebes vẫn là trung tâm thờ cúng chính và là nơi chôn cất các vị vua.

Nơi neo đậu nên được coi là cung điện theo nghĩa là nơi ở cho nhà vua và các tùy tùng của ông, nhưng không nên tưởng tượng chúng giống như cung điện cổ đại tương đương với Cung điện Buckingham hay Versailles. Ý tưởng về cung điện định cư, hay thực sự là một hộ gia đình thượng lưu định cư, là một ý tưởng tương đối hiện đại. Ví dụ, ở nước Anh thế kỷ XIV, ngay cả một quý ông có tư cách tương đối khiêm tốn cũng có thể trở thành lãnh chúa của một số trang viên, mà ông ta cần phải đích thân luân phiên đi giám sát, trong khi một lãnh chúa hùng mạnh sẽ sở hữu nhiều điền trang trên khắp đất nước. Khi một chủ đất như vậy chuyển từ điền trang này sang điền trang khác, ông ta được hộ tống (gia đình, người phụ thuộc và người hầu), đồ đạc, đĩa và quần áo của ông ta, tất cả đi khắp vùng nông thôn theo phong cách nhằm gây ấn tượng về sự giàu có và phẩm giá của ông ta đối với những người kém may mắn, người dân địa phương. Việc di chuyển cứ sau hai đến ba tuần sẽ không được coi là quá mức, và phải đến cuối thế kỷ XIV, các hộ gia đình lớn mới trở nên tương đối ổn định, có lẽ di chuyển hai hoặc ba lần một năm.

Các cung điện nằm rải rác dọc theo sông Nile không nên được sử dụng như những bằng chứng bằng đá ấn tượng cho những vinh quang của triều đại một vị vua cụ thể nào đó; thay vào đó chúng được xây dựng nhanh chóng và tương đối rẻ từ gạch bùn ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào được yêu cầu. Việc sử dụng gạch bùn có nghĩa là các cung điện có thể được thiết kế ngay tại chỗ để phù hợp với yêu cầu chính xác của những người cư ngụ, không giống như các kế hoạch tiêu chuẩn ít nhiều được sử dụng cho các ngôi đền và lăng mộ bằng đá. Tuy nhiên, việc sử dụng gạch bùn cũng có nghĩa là các cung điện dễ bị mục nát, và hiện nay chúng ta có rất ít các tòa nhà cung điện còn sót lại. Sự đi lại của hoàng gia từ cung điện này sang cung điện khác đảm bảo rằng quyền lực của nhà vua đã trở thành hiện thực đối với dân chúng những tỉnh xa xôi nhất và ở mức độ thực tế hơn, có thể là một thực tập cắt giảm chi phí hiệu quả. Mặc dù mỗi Nơi neo đậu được cung cấp một trang trại và kho thóc riêng, điều này không nhất thiết cung cấp đủ lương thực cho một chuyến thăm, và thường cần phải giao cho thị trưởng địa phương chịu trách nhiệm cung cấp cho hộ gia đình hoàng gia. Các quan chức địa phương có lẽ đã lo lắng trước tin tức về một chuyến thăm sắp tới của hoàng gia. Một trang ghi chép của Vương triều 19 đưa ra một số dấu hiệu về việc chuẩn bị được coi là cần thiết để chào đón một vị pharaoh:

Tiếp tục chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng cho [sự xuất hiện] của pharaoh… đã chuẩn bị sẵn 100 chiếc giá cho bó hoa… 1.000 ổ bột mì… Bánh, 100 giỏ… Thịt khô, 100 giỏ… Sữa, 60 đơn vị… Nho, 50 bao tải… 20

Vào cuối triều đại của Ahmose, nền kinh tế Ai Cập đã phát triển vượt bậc. Ai Cập đương nhiên là một quốc gia rất giàu có và một khi sự thống nhất và quyền kiểm soát trung ương được thiết lập lại, người ta có thể phối hợp quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào của mình, đánh thuế những người sản xuất chính – nông dân và địa chủ – để hỗ trợ cho chế độ quan liêu và tư tế, cấu trúc thượng tầng và tích trữ thặng dư để sử dụng vào thời buổi thiên tai khắc nghiệt hơn. Sử gia Hy Lạp Herodotus đã bình luận một cách thán phục:

Không có quốc gia nào khác nông dân thu hoạch hạt giống của mình với ít lao động như vậy. Họ không cần phải phá đất bằng cái cày, cũng không phải dùng cuốc, cũng không thực sự phải làm bất kỳ công việc khó khăn nào mà phần còn lại của nhân loại thấy cần thiết nếu họ muốn có được một vụ mùa. Thay vào đó, người nông dân chỉ cần đợi cho đến khi dòng sông tự chảy tràn qua các cánh đồng và rút xuống đất một lần nữa, rồi anh ta gieo mảnh đất của mình…

Mặc dù cuộc sống của người nông dân gần như chắc chắn có phần khó khăn hơn cuộc sống bình dị mà Herodotus mô tả, nhưng rõ ràng là lực lượng lao động nông dân, không cần gắng sức quá mức, đã có thể hỗ trợ dân số khoảng 3.000.000 người của Ai Cập trong thời kỳ đầu của Vương quốc Mới. Trong thời kỳ ngập lũ khi ruộng đất ngập nước, tất cả công việc đồng áng thông thường đều ngừng hoạt động, các nông dân trở thành một lực lượng lao động thất nghiệp sẵn sàng làm việc cho các dự án lớn của nhà nước như xây dựng tượng đài hoàng gia, các kim tự tháp. Biết rằng nhà nước và nhà kho chứa đầy ngũ cốc hẳn đã khiến các vị vua của Vương triều thứ 18 vô cùng yên tâm, những người biết rằng nạn đói lặp đi lặp lại, giống như lũ lụt kinh hoàng, có thể dẫn đến việc thay đổi triều đại nhanh chóng.

Ra khỏi Thung lũng sông Nile ngay kế bên, là vùng đất rất giàu đá xây dựng, cả đá vôi và đá sa thạch mềm hơn, và cứng hơn, kỳ lạ hơn, như đá granit, được khai thác ở Thác Lớn Thứ Nhất, đá thạch anh, đến từ Gebel Ahmar gần Cairo hiện nay, đá bazan từ Wadi Hammamat ở Sa mạc phía Đông và đá cao su từ Hatnub, Trung Ai Cập. Mặc dù không có đá quý nhưng thạch anh tím bán quý, carnelian và jasper đều có thể được tìm thấy bên trong biên giới Ai Cập, có vàng ở sa mạc phía Đông và Sinai được khai thác cho cả đồng và ngọc lam. Các mặt hàng có giá trị duy nhất bị thiếu là bạc và gỗ; những thứ này có thể được nhập khẩu từ Aegean và từ Cận Đông khi cần thiết.

Sự kiểm soát mới được tái áp đặt của Ai Cập đối với Nubia đã dẫn đến việc tăng nguồn cung vàng và những vật ngoại lai rất được ưa chuộng như ngà voi, khỉ đầu chó, người lùn, trứng đà điểu và lông vũ. Điều này lại cung cấp các mặt hàng dư thừa để trao đổi với các nước láng giềng Địa Trung Hải của Ai Cập; Các liên kết ngoại giao và thương mại đã được thiết lập với Mitanni, Babylon, Assyria, Đế chế Hittite và các đảo của Hy Lạp, và Ai Cập có thể cung cấp vàng, ngũ cốc và vải lanh, đổi lại nhận được bạc, gỗ, đồng, dầu và rượu. Khi phạm vi ảnh hưởng của Ai Cập từ từ mở rộng khắp Cận Đông, kho ngân khố mở rộng để nhận được một dòng suối cống nạp ngày càng tăng từ các quốc gia chư hầu, cùng với thặng dư thương mại, thuế nội địa và đồ cướp bóc thu giữ từ những kẻ không đủ khôn ngoan dám chống lại đà tiến quân của Ai Cập, biến Ai Cập trở thành quốc gia giàu có và có ảnh hưởng nhất trên thế giới Địa Trung Hải. Vào thời của Amenhotep III, gần một thế kỷ sau thời trị vì của Hatchepsut, vị vua ghen tị Tushrata xứ Mitanni đã cầu xin quốc vương Ai Cập : “Vậy anh trai hãy gửi cho em vàng với số lượng lớn mà không cần phải đo đếm. Vì trong đất của anh vàng dồi dào như cát bụi.’

Nền kinh tế hưng thịnh trực tiếp dẫn đến sự mở rộng nhanh chóng các dịch vụ dân sự vì ngày càng có nhiều quan chức được yêu cầu thu thập, giám sát và phân phối lại lượng thặng dư mới kiếm được của quốc gia. Ít hơn năm phần trăm dân số Vương quốc Mới biết chữ, và nhu cầu đột ngột về các quản trị viên hoặc thư lại có tay nghề kết hợp với việc đền thờ có sẵn đất cho tư nhân thuê cho phép tầng lớp trung lưu có ảnh hưởng chính trị lớn hơn, và tài sản cá nhân lớn hơn nhiều và quyền tự do, hơn bao giờ hết, được biết đến ở Ai Cập. Nhu cầu gia tăng đối với thư lại dẫn đến việc mở rộng hệ thống giáo dục, và hiện nay chúng ta tìm thấy nhiều văn bản giáo khoa được viết riêng để sử dụng trong trường học. Một trong những văn bản này, Giấy Cối Lansing, mô tả rất cụ thể những niềm vui – và phần thưởng kinh tế tiềm năng – có thể đạt được thông qua việc tận tâm nghiên cứu: ‘Hãy làm bạn với cuộn giấy, bảng màu. Nó làm hài lòng nhiều hơn rượu. Viết đối với người biết chữ tốt hơn mọi nghề nghiệp khác. Ngoại trừ những văn bản trường học này, văn học của đầu Vương triều 18 vẫn bám rễ vững chắc vào truyền thống của Trung Vương quốc, và không có sự tiến bộ đáng kể nào trong cả hai phong cách hoặc thể loại tại thời điểm này.

Phần lớn của cải mới của Ai Cập được chuyển trực tiếp đến cung điện, giúp pharaoh có thể tài trợ cho các công trình xây dựng đầy tham vọng, qua đó nâng cao vị thế của chính mình trong mắt người dân và đảm bảo rằng tên tuổi ông, gắn liền với các di tích của ông, sẽ tồn tại mãi mãi. . Các nghệ sĩ và nhà điêu khắc, được hưởng lợi từ môi trường tài chính được cải thiện, một lần nữa tìm kiếm nguồn cảm hứng của mình trong quá khứ của Ai Cập, và các quy ước nghệ thuật của Vương triều thứ 12 đã tạo cơ sở vững chắc cho nghệ thuật kiểu mới. Hội họa nói riêng phát triển mạnh khi, với phong tục chôn cất mới trong những ngôi mộ cắt bằng đá rất thích hợp để chạm khắc, giờ đây, việc vẽ những cảnh tang lễ là điều cần thiết. Đối với những nhà quan sát hiện đại khi nhìn lại, có vẻ như vào thời điểm này đã có một niềm tin mới trên khắp đất nước và một nhận thức mới về những ảnh hưởng ngoại lai thú vị đang bắt đầu chuyển dần về phía nam đối với Thebes, để nghệ thuật của đầu Vương triều 18 có thể được coi là rơi vào khoảng giữa phong cách trang trọng và hạn chế của Vương triều thứ 12 và tính thân thiết phức tạp của Đế chế. Các nghệ sĩ bây giờ tỏ ra yên tâm hơn rất nhiều trong công việc của họ và đối tượng của họ được miêu tả với một sự chuyên nghiệp hạn chế. Đã qua rồi những pharaoh thân mật, bộc lộ tâm hồn của Vương triều thứ 12; thay vào đó, chúng ta được giới thiệu với đôi má căng tròn và nụ cười phơn phớt của một vị vua nắm vững quyền lực cá nhân mình. Tranh tường tư nhân đương đại, một lần nữa bị ảnh hưởng nặng nề bởi truyền thống thời Trung Vương quốc, từ từ bắt đầu thư giãn và từ bỏ các tư thế hơi cứng nhắc phổ biến trong thời kỳ Trung Vương quốc cho đến khi ‘một kích thước mới được trao cho các hình thức đã được thiết lập, nhưng với sự kiềm chế và đơn giản có vẻ phù hợp đối với tinh thần Ai Cập’. Xu hướng ngày càng tăng đối với các loại hình nghệ thuật ít trang trọng hơn đã được phản ánh trong những bộ quần áo thời trang đang được mặc vào thời điểm này. Trang phục tiêu chuẩn của tầng lớp thượng lưu Vương quốc Cổ và Trung (váy đơn giản hoặc ‘áo dài có túi’ dành cho nam giới, váy dài và khăn choàng dành cho phụ nữ) dần trở nên ít trang trọng hơn và trang trí công phu hơn, cho đến cuối Vương triều 18, phong cách Vương quốc Cổ và Trung khá giản dị và sang trọng đã không còn và những người Ai Cập giàu có đang ăn mặc theo một phong cách phù phiếm hơn nhiều với hàng thuớc vải lanh xếp li chặt chẽ và những hàng tua rua cầu kỳ.

Vào thời kỳ kế vị của Hatchepsut, khoảng năm mươi năm sau khi đất nước thống nhất, một kim tự tháp xã hội được xác định rõ ràng đã phát triển. Như trong thời Cổ và Trung Vương quốc, vị pharaoh thần thánh sở hữu vùng đất mà mọi người trong đó; về lý thuyết, ít nhất, ông vẫn là vua, giáo chủ của mọi giáo phái, người đứng đầu cơ quan dân sự, đại pháp quan và chỉ huy tối cao của quân đội. Ông được hỗ trợ trong các nhiệm vụ khó khăn của mình bởi một nhóm quý tộc ưu tú, tất cả đều là nam giới và nhiều người trong số họ có quan hệ họ hàng với ông và, phía dưới thuộc quy mô xã hội, bởi các gia đình địa phương nổi tiếng, những người đã trung thành với nhà vua và quan chức chính quyền địa phương. Tầng lớp trên của xã hội và gia đình của họ có số lượng không quá hai hoặc ba nghìn người, trong khi tổng dân số của Ai Cập trong thời Tân Vương quốc được ước tính vào khoảng từ ba đến bốn triệu. Tầng lớp trung lưu biết chữ giờ đây đang được hưởng sự thịnh vượng chưa từng có, làm quản lý, binh lính, thầy tu và thợ thủ công trong khi tầng lớp trung lưu bán giáo dục được học nghề. Tầng lớp thấp nhất và lớn nhất của xã hội bao gồm bộ binh, người lao động, người hầu và nông dân làm việc trên đất thuộc sở hữu của nhà vua, đền đài hoặc điền trang tư nhân. Herodotus, không đề cập đến những người nông dân vốn là trụ cột của nền kinh tế Ai Cập, cho chúng ta biết rằng có bảy ngành nghề chính: ‘Đó là, các thầy tu, các chiến binh, người chăn bò, người chăn lợn, nhà buôn, thông dịch viên và thợ thuyền’. Có vẻ như đây là những người Ai Cập mà bản thân ông thường gặp nhất trong các chuyến du hành của mình.

Ngay từ cái nhìn đầu tiên, đây là một cấu trúc xã hội giống hệt cấu trúc xã hội được tìm thấy trong các giai đoạn trước của lịch sử Ai Cập, và thực sự chính người dân Ai Cập đã vui mừng vì vùng đất của họ đã trở lại đúng mô hình xã hội được thiết lập vào thời điểm tạo dựng. Tuy nhiên, có thể phát hiện ra những thay đổi tinh tế trong các thế mạnh. Các pharaoh vẫn là người cai trị tối thượng, nhưng giờ đây tất cả họ đều nhận thức được rằng quyền lực của mình không phải là tuyệt đối và trong một số trường hợp nhất định, có thể bị thách thức và thậm chí mất đi. Do đó, các vị vua của Vương triều 18 thấy rằng cần thận trọng khi nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò của mình bằng cách thể hiện chủ nghĩa anh hùng, sự giàu có và lòng mộ đạo trước công chúng, và bằng cách không ngừng sử dụng các văn bản tuyên truyền tự biện minh mang tính thần thoại và nghi lễ. Pharaoh hiện cai trị một quốc gia phát triển hơn về kinh tế, nơi quân đội, dịch vụ dân sự và chức tư tế đã trở thành các thể chế quan trọng của nhà nước; đặc biệt là chức tư tế lúc này vừa bán độc lập vừa rất mạnh mẽ về kinh tế. Sự giàu có ngày càng tăng của Ai Cập đã có tác động có lợi cho nền kinh tế nội địa, và tầng lớp trung lưu biết chữ và có tay nghề cao nhận thấy mình có nhu cầu lớn. Chỉ những tầng lớp thấp hơn, đặc biệt là nông dân, mới tìm thấy ít thay đổi so với cuộc sống ở thời Cổ và Trung Vương quốc. Những người lao động này tiếp tục với các công việc hàng ngày mà cha ông họ đã làm từ rất xa xưa. Đối với người Ai Cập, vốn coi trọng sự liên tục trên hầu hết mọi việc, đây là một trạng thái rất yên tâm.

14

Bản đồ vị trí các di tích Ai Cập cổ đại

(còn tiếp)



Nghiên Cứu Lịch Sử

Avatar
Võ Phương Lan

Yêu thích lịch sử và đọc sách

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Đọc Nhiều

Mới Đăng

- Quảng cáo -

Cùng Chuyên Mục
Recommended to you